
| Gà sao | |
|---|---|
Một con gà sao | |
| Tình trạng bảo tồn | |
Ít quan tâm (IUCN 3.1) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Aves |
| Bộ (ordo) | Galliformes |
| Họ (familia) | Numididae |
| Chi (genus) | Numida Linnaeus, 1764 |
| Loài (species) | N. meleagris |
| Danh pháp hai phần | |
| Numida meleagris (Linnaeus, 1758) | |

Gà trĩ, còn được gọi là gà sao hoặc trĩ sao (tên khoa học: Numida meleagris), là loài chim thuộc họ Gà Phi (Numididae) và là loài duy nhất của chi Numida. Nguồn gốc của loài này là từ châu Phi, đặc biệt là khu vực nam Sahara, và hiện đã được giới thiệu đến nhiều khu vực như Tây Ấn, Brasil, Australia và châu Á.
Đặc điểm sinh học
Hình dáng
Gà sao có bộ lông xám đen với điểm xuyết màu trắng nhạt, thân hình thuôn dài, lưng hơi gù, đuôi cong, không có mào mà thay vào đó là các mấu sừng mọc dần theo thời gian. Ở giai đoạn trưởng thành, các mấu sừng cao khoảng 1,5-2 cm. Da mặt và cổ trơn, màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng, chân không có cựa.
Khi được một ngày tuổi, gà sao có lông màu giống như màu của chim sẻ, với các đường sọc kéo dài từ đầu đến đuôi. Mỏ và chân màu hồng, chân có 4 ngón và 2 hàng vảy. Khi trưởng thành, gà sao có lông xám đen, với các điểm trắng nhỏ tròn. Mào của gà sao có màu trắng hồng và có hai kiểu: một kiểu hình lá dẹt áp sát cổ, kiểu còn lại là lá hoa đá rủ xuống.
Việc phân biệt trống mái ở gà sao là rất khó. Khi mới một ngày tuổi, việc phân biệt qua lỗ huyệt không chính xác như các giống gà khác. Khi trưởng thành, con trống và con mái gần như giống nhau hoàn toàn. Tuy nhiên, có thể phân biệt giới tính gà sao dựa vào sự khác biệt trong tiếng kêu của từng con.



Thói quen sinh hoạt
Gà sao có khả năng bay lượn tốt như chim. Trong môi trường hoang dã, chúng tìm thức ăn trên mặt đất, chủ yếu là côn trùng và thực vật nhỏ. Chúng thường di chuyển theo bầy khoảng 20 con. Vào mùa đông, gà sao sống thành từng đôi trong tổ và chỉ tụ tập thành đàn khi thời tiết ấm lên. Gà sao mái có thể đẻ từ 20-30 trứng và tự ấp trứng trên mặt đất. Tuy nhiên, gà mái không giỏi nuôi con, thường bỏ rơi con khi đi vào những đám cỏ cao, dẫn đến việc mẹ gà sao mất đến 75% số con. Trong chăn nuôi, gà sao vẫn giữ những đặc tính hoang dã như tính nhút nhát và hay sợ hãi. Chúng bay rất giỏi và phát ra tiếng kêu đặc trưng, sống ồn ào và ít khi im lặng.
Gà sao rất nhạy cảm với tiếng động như mưa, gió, sấm, chớp, tiếng cành cây gãy và đồ vật rơi vỡ. Gà sao nuôi nhốt từ nhỏ thường sợ bóng tối và chồng đống lên nhau khi mất điện, chỉ trở lại hoạt động bình thường khi có điện. Chúng ưa hoạt động, không ngủ ban ngày trừ giai đoạn còn nhỏ, và ngủ thành bầy vào ban đêm. Do tính linh hoạt cao, chúng ít cắn nhau nhưng lại thích mổ những vật lạ như sợi dây tải, que nhỏ trong chuồng, thậm chí cả nền và tường chuồng, dẫn đến tổn thương miệng.
Gà sao bay rất giỏi và có thể bay từ sáng sớm. Khi được 2 tuần tuổi, chúng đã có thể bay lên cao từ 6-12m. Chúng bay mạnh mẽ, đặc biệt khi hoảng loạn. Gà sao cũng thích tắm nắng, thường tập trung vào khoảng 9-11h sáng và 3-4h chiều. Chúng bới một hố cát sâu, rúc vào hố, cọ lông và nằm phơi nắng.
Chức năng sinh sản
Khi giao phối, các giống gà khác thường thể hiện sự tự mãn bằng cách ghẹ gà mái và tiếng gáy dài. Tuy nhiên, gà Sao không bộc lộ rõ ràng các hành vi sinh dục như vậy. Gà sao mái đẻ trứng một cách lặng lẽ và thường không để lại dấu vết nào sau khi rời khỏi ổ.
Các phân loài của gà sao
Có chín phân loài gà sao đã được công nhận:
- N. m. coronatus (Gurney, 1868) - gà sao Natal - phân bố ở miền đông Nam Phi
- N. m. galeatus (Pallas, 1767) - gà sao Tây Phi - từ Tây Phi đến miền nam Tchad, miền trung Zaire và bắc Angola
- N. m. marungensis (Schalow, 1884) - gà sao Marungu - từ nam bồn địa Congo đến tây Angola và Zambia
- N. m. meleagris (Linnaeus, 1758) - gà sao Sahara - từ đông Tchad đến Ethiopia, bắc Zaire, Uganda và bắc Kenya
- N. m. mitratus (Pallas, 1764) - gà sao có mỏ lông - từ Tanzania đến đông Mozambique, Zambia và bắc Botswana
- N. m. papilosus (Reichenow, 1894) - gà sao Damara - từ nam Angola đến Botswana và Namibia
- N. m. reichenowi (Ogilvie-Grant, 1894) - gà sao Reichenow - Kenya và miền trung Tanzania
- N. m. sabyi (Hartert, 1919) - gà sao Saby - đông bắc Maroc
- N. m. somaliensis (Neumann, 1899) - gà sao Somali - đông bắc Ethiopia và Somalia
Ghi chú
- Thông tin liên quan đến Numida meleagris trên Wikispecies
