Tóm tắt nội dung đoạn trích bằng một đoạn văn khoảng 6 – 8 dòng. Nhân vật Võ Tòng không chỉ được khắc hoạ ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ,... qua lời kể của nhân vật “tôi”
Câu 1
Câu 1 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
Tóm tắt nội dung đoạn trích bằng một đoạn văn khoảng 6 – 8 dòng.
Phương pháp giải:
Nhớ lại các sự kiện chính của văn bản để tóm tắt
Lời giải chi tiết:
Vào một lần ông Hai bán rắn tía nuôi An đã dắt An đi thăm chú Võ Tòng trong căn lều ở giữa rừng U Minh. Đó là một căn nhà trong rừng sâu với nhiều cây cối và con vượn bạc má kêu “chét…ét, chét…ét” tạo cảm giác hoang vắng. Tại đây An đã thấy được nếp sống sinh hoạt đơn sơ, phóng khoáng của chú Võ Tòng, và tính cách khoáng đạt, tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc toát ra từ con người chú, chú mang những phẩm chất cao đẹp của những con người miền sông nước phương Nam này.
Câu 2
Câu 2 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
Nhân vật Võ Tòng không chỉ được khắc hoạ ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ,... qua lời kể của nhân vật “tôi” (ngôi thứ nhất) mà còn được hiện lên qua lời người kể chuyện (ngôi thứ ba) và lời các nhân vật khác. Em hãy dẫn một số câu văn cụ thể trong văn bản tiêu biểu cho các cách kể sau:
a) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ nhất
b) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ ba
c) Lời các nhân vật khác
Phương pháp giải:
Tìm trong văn bản những câu văn, đoạn văn nói về nhân vật Võ Tòng
Lời giải chi tiết:
a) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ nhất (trực tiếp):
Chú cởi trần, mặc chiếc quần ka ki còn mới, nhưng coi bộ đã lâu không giặt (chiếc quần lính Pháp có những sáu túi). Bên hông, chủ đeo lủng lẳng một lưỡi lê nằm gọn trong vỏ sắt, đúng như lời má nuôi tôi đã tả.
b) Lời người kể chuyện theo ngôi thứ ba (gián tiếp):
Không ai biết tên thật của gã là gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơi một chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa khu rừng đầy thú dữ này. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng không có.
c) Lời các nhân vật khác:
nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không. Điều đó, má nuôi tôi quả quyết, nói một cách chắc chắn như vậy…
Câu 3
Câu 3 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
(Câu hỏi 3, SGK) Nêu tác dụng của việc kết hợp giữa lời kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”) với lời kể theo ngôi thứ ba trong việc khắc hoạ nhân vật Võ Tòng.
Phương pháp giải:
Nêu tác dụng của ngôi kể thứ nhất
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện trong văn bản này vừa ở ngôi thứ nhất (xưng “tôi”), vừa ở ngôi thứ ba, tức là “tuy hai mà một”. Việc thay đổi ngôi kể về nhân vật Võ Tòng như trong đoạn trích có tác dụng giúp việc kể chuyện linh hoạt hơn, khắc hoạ chân dung Võ Tòng ở nhiều góc nhìn khác nhau (cả trực tiếp và gián tiếp). Vì vậy mà nhân vật càng trở nên sinh động, chân thực trong cái nhìn vừa khách quan, vừa chủ quan.
Câu 4
Câu 4 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
(Câu hỏi 4, SGK) Hãy nêu một số yếu tố (ngôn ngữ, phong cảnh, tính cách con người, nếp sinh hoạt,...) trong văn bản để thấy tiểu thuyết của Đoàn Giỏi mang đậm màu sắc Nam Bộ.
Phương pháp giải:
Dựa vào văn bản, tìm và nêu lên một số yếu tố mang màu sắc Nam Bộ như: ngôn ngữ, phong cảnh, tính cách con người, nếp sinh hoạt…
Lời giải chi tiết:
Một số yếu tố cho thấy truyện của Đoàn Giỏi mang đậm màu sắc Nam Bộ:
- Ngôn ngữ: sử dụng ngôn ngữ địa phương đậm sắc Nam Bộ (tía, má, anh Hai, chị Hai, bà, nhà việc, khám, qua,...)
- Phong cảnh: núi rừng và sông nước đặc miền Nam Bộ.
- Tính cách con người: can trường, gan dạ, chất phác, thật thà, dễ mến.
- Nếp sinh hoạt: nếp sinh hoạt của con người nơi đây cũng rất tự do phóng khoáng, người với người đối đãi với nhau bằng tình cảm hào sảng, gần gũi.
Câu 5
Câu 5 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
(Câu hỏi 5, SGK) Qua đoạn trích, em hiểu thêm được gì về con người của vùng đất phương Nam? Hãy nêu một chi tiết mà em thích nhất và lí giải vì sao.
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đoạn trích và nêu chi tiết mà em thích nhất
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích Người đàn ông cô đơn giữa rừng giúp ta hiểu thêm về con người Nam Bộ. Cụ thể là những người như ông Hai, bà Hai (tiá và má nuôi của An), nhân vật “tôi” và đặc biệt là chú Võ Tòng,… Đó là những người sống hoà hợp với thiên nhiên, tính cách trung thực, thẳng thắn, tôn trọng truyền thống, anh dũng, luôn vì lý tưởng lớn…
Câu 6
Câu 6 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
Chi tiết con vượn bạc má xuất hiện mấy lần trong đoạn trích? Chi tiết này tạo cho em ấn tượng gì về nhân vật Võ Tòng và bối cảnh của truyện?
Phương pháp giải:
Chú ý chi tiết con vượn bạc má xuất hiện trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Chi tiết con vượn bạc má xuất hiện 4 lần trong đoạn trích
- Chi tiết này tạo cho em ấn tượng về nhân vật Võ Tòng và bối cảnh của truyện là: Đây là lần đầu tiên nhân vật “tôi” gặp chú Võ Tòng trực tiếp tại “nhà” của chú là chiếc lều giữa rừng (trước đó chỉ gặp qua ở bờ sông và chủ yếu là nghe qua lời kể của vợ chồng ông Hai); thời gian gặp lại vào ban đêm và sáng. Tiếng con vượn bạc má kêu “ché…ét, ché…ét”, “ngồi vắt vẻo trên một thanh xà ngang, nhe răng dọa tôi” làm cho bối cảnh của cuộc gặp gỡ mang màu sắc hoang sơ, li kì, … Chi tiết đó cũng làm người đọc có ấn tượng mạnh mẽ về nhân vật Võ Tòng: một người sống trần trụi như muông thú giữa thiên nhiên.
Câu 7
Câu 7 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
Hình ảnh nhân vật Võ Tòng hiện lên qua lời kể của chú bé An là con người như thế nào? Em có suy nghĩ hoặc nhận xét gì về nhân vật này?
Phương pháp giải:
Chú ý các chi tiết miêu tả nhân vật Võ Tòng
Lời giải chi tiết:
- Qua lời kể của chú bé An, Võ Tòng là một con người có hình dáng bề ngoài rất kì lạ, như người rừng; như người từ thuở hoang sơ: “Dường như những cái bóng lặng lẽ ngồi bên bếp đây đang sống lùi lại từ cái thời kì loài người mới tìm ra lửa vậy.”, nhưng lại là một người rất gần gũi, ấm áp và kiên cường. Đây là ấn tượng của nhân vật An lúc mới vào lều của chú Võ Tòng: “Tôi không sợ chú Võ Tòng như cái đêm đã gặp chú lần đầu tiên ở bờ sông, mà lại còn có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc nhiên hơi buồn cười thế nào ấy?
=> Chú Võ Tòng là người giản dị, gần gũi, ấm áp và kiên cường
Câu 8
Câu 8 (trang 10, SBT Ngữ văn 7, tập 1)
Đọc đoạn trích dưới đây và hoàn thành các yêu cầu sau:
Không ai biết tên thật của hắn là gì. Mười mấy năm trước, hắn một mình đi trên chiếc xuồng rách đến lều trại giữa khu rừng nơi u ám này. Hắn sống cô đơn một mình, thậm chí không có con chó để làm bạn. Lúc đó, rừng này còn đầy hổ. […] Một buổi trưa, hắn đang ngủ trong lều, có con hổ lớn mò vào, từ ngoài sân đẩy một cái phủ lên người hắn. Bất giác hắn tỉnh giấc. Hắn nhanh chóng vớ bỏ cái mũ màu xanh, cũng không kịp ngồi dậy nữa, chỉ nằm ngửa đâm thẳng một nhát vào hàm dưới của con hổ, hai chân hắn đủ mạnh để đè lên bụng con hổ, không để con thú hung ác chạm vào hắn. Con hổ lăn vòng, rơi xuống đất. Lưỡi mũ màu xanh đâm từ hàm dưới đâm lên đến óc, làm cho con hổ không thở nổi, nhưng vẫn cố gắng tấn công cuối cùng, để lại trên gương mặt hắn một vết sẹo dài từ trán xuống cổ. Không biết liệu có phải từ đó mà hắn gọi là “Võ Tòng” hay không? Theo một số cụ già có kinh nghiệm, thì ngày xưa, hắn là một chàng trai tốt bụng, sống ở một vùng rất xa. Hắn cũng có một gia đình hạnh phúc như ai. Vợ hắn là một phụ nữ xinh đẹp. Lúc mang thai đứa con đầu lòng, vợ hắn thường kêu ăn măng. Hắn, người đàn ông hiền lành, yêu thương vợ ấy bèn mạo hiểm đi rừng tre địa phương, cắt một mụt măng. Khi đi qua gần nhà tên địa chủ, tên này bắt hắn bỏ mụt măng xuống đất và buộc hắn lấy trộm măng tre của tên. Hắn không đồng ý, nhưng tên địa chủ có quyền lực nhất làng cứ vung đòn lên đầu hắn. “Đánh tay thì có thể chịu đựng, nhưng đánh lên đầu là kính trọng nhất đối với ông bà… thì số mày cũng đã đếm ngược!”. Lưỡi dao trong tay hắn không để tên địa chủ tự ý đánh lên đầu hắn lên đến cú thứ hai. Phiến dao đâm vào mặt tên địa chủ cay nồng và lắm lợi nằm ngã xuống đất. Nhưng hắn không chạy trốn. Hắn trung thực xách dao đến nhà việc, đặt tay chịu tội.
Sau mười năm tù, hắn trở về làng cũ chỉ để biết rằng vợ đã giết tên địa chủ, và đứa con trai duy nhất mà hắn chưa bao giờ gặp đã qua đời từ khi hắn còn trong tù. Người dân trong làng luôn căm ghét tên địa chủ tàn ác, háo sắc, trông đợi vụ trả thù lần hai. Nhưng họ đã bất ngờ vài lần rồi cuối cùng cười và rời làng. Một số cụ già có kinh nghiệm quả quyết rằng hồi tưởng. Hắn chỉ nói rằng chính hắn đã lấy tên “Võ Tòng” từ khi xách dao đến nhà việc chịu tội. Còn như những dấu vết xanh lè lên da thịt hắn, và hắn trở thành một võ sĩ giỏi từ lúc nào, thì có người nói đó là kết quả của thời gian hắn ở tù, nhưng cũng có người cho rằng đó là từ khi hắn đi lưu vong. Hơn mười năm sống cô đơn giữa rừng, mặc dù đã có nhiều phụ nữ nhăm nhe, nhưng Võ Tòng không để mắt tới bất kỳ phụ nữ nào nữa. Sống trong rừng suốt thời gian dài, hắn trở nên kỳ quặc và kì lạ về hình dạng. Nhưng mọi người đều yêu quý hắn vì tính cách thật thà, lòng bảo thủ, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người mà không mong nhận lại điều gì. Điều này, người mẹ nuôi tôi khẳng định, nói một cách rõ ràng như thế…”
a) Đoạn trích trên tập trung vào việc mô tả nhân vật Võ Tòng từ các khía cạnh khác nhau
b) Trong bài văn, người tác giả miêu tả như vậy về Võ Tòng.
c) Nếu phải vẽ nhân vật Võ Tòng, tôi sẽ miêu tả anh ấy như thế này:
Phương pháp giải:
Đọc đoạn văn cẩn thận
Lời giải chi tiết:
a) Trong đoạn trích, tác giả tập trung mô tả nhân vật Võ Tòng từ nhiều khía cạnh: quá trình lớn lên (tiểu sử); hành động, việc làm (săn hổ, đấu tranh với thế lực thực dân, sẵn sàng thừa nhận lỗi lầm, ra đi, trở về và sống ẩn dật trong rừng,...). Người kể câu chuyện trong đoạn trích này sử dụng góc nhìn thứ ba. Tới đoạn cuối cùng, tác giả chuyển sang góc nhìn thứ nhất (tự xưng “tôi”). Góc nhìn này giúp phác họa nhân vật Võ Tòng một cách khách quan, sống động hơn, giúp người đọc có cái nhìn đa chiều hơn về nhân vật,...
b) Đoạn văn: “Nhưng mọi người đều yêu quý gã vì tính cách hiền lành, thật thà, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác mà không mong đợi đền đáp.” là lời nhận xét của bà Hai - người nuôi An – về Võ Tòng, Đây không phải là lời nhận xét của người kể trong đoạn trích mà là nhớ lại từ nhân vật An.
c) Dựa vào đoạn trích trên, nếu tôi phải vẽ hình nhân vật Võ Tòng, tôi sẽ tập trung vào:

Theo tôi, nét tính cách của nhân vật này là biểu tượng của tính cách người Nam Bộ: chân thành, thật thà
