Nêu các ứng dụng của dấu chấm lửng và minh hoạ ví dụ theo mẫu bảng dưới đây (thực hiện vào vở)
Câu 1
Nêu các ứng dụng của dấu chấm lửng và minh hoạ ví dụ theo mẫu bảng dưới đây (thực hiện vào vở):
|
TT |
Công dụng |
Ví dụ minh hoạ |
|
1 |
||
|
2 |
||
|
3 |
||
|
4 |
||
|
5 |
|
Cách giải:
Sử dụng kiến thức về Ngữ Văn, điền tên các ứng dụng theo thứ tự vào cột bên trái, nhắc lại các ví dụ đã được đề cập trong Sách Giáo Khoa ở cột bên phải
Giải chi tiết:
|
TT |
Công dụng |
Ví dụ minh hoạ |
|
1 |
Biểu đạt ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết. |
Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội thoăn thoắt leo lên thân cây chuối rất trơn vì đã bôi mỡ. Có người leo lên, tụt xuống, lại leo lên,... |
|
2 |
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng. |
- Bởi vì... bởi vì... (San cúi mặt và bỏ tiếng Nam, dùng tiếng Pháp) người ta lừa dối anh. |
|
3 |
Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội dung bất ngờ hay hài hước, châm biếm. |
Thầy Lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tay mặt nói: - Tao biết mày phải... nhưng nó lại phải... bằng hai mày. |
|
4 |
Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt. |
Nước từ núi Tiên giội như thác, trắng xoá, qua suối Cộc xóm Đông tràn sang suối xóm Tây rồi dồn về suối xóm Trại chúng tôi. [...] Trẻ con chúng tôi la ó, té nhau, reo hò. |
|
5 |
Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng. |
Ò... ó... o... Ò...ó... ... Tiếng gà Tiếng gà. |
Câu 2
Đọc đoạn văn dưới đây:
Trường đua ngay lập tức được vạch ra. Con cáo làm vai trò của trọng tài. Nó vươn cổ hú lên ba tiếng:
- Hu …u…uét! Hu …u…uét! Hu …u…uét!
Vào lúc đó, cuộc thi bắt đầu.
Dấu chấm lửng ở trường hợp này được sử dụng cho một trong những mục đích sau đây:
|
TT |
Các công dụng |
Công dụng trong đoạn văn |
|
1 |
Biểu đạt ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết. |
|
|
2 |
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng. |
|
|
3 |
Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội dung bất ngờ hay hài hước, châm biếm. |
|
|
4 |
Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt |
|
|
5 |
Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng |
Phương thức giải:
Trước hết, hãy đọc kỹ đoạn văn trong câu hỏi. Sau đó, so sánh với năm mục đích của dấu chấm lửng và ví dụ trong bài tập 1 để xác định dấu chấm lửng trong đoạn văn được sử dụng cho một trong các mục đích nào, và đánh dấu vào ô tương ứng trong bảng.
Giải chi tiết:
|
TT |
Các công dụng |
Công dụng |
|
1 |
Biểu đạt ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết. |
|
|
2 |
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng. |
|
|
3 |
Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội dung bất ngờ hay hài hước, châm biếm. |
|
|
4 |
Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt |
|
|
5 |
Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng. |
Câu 3
Đoạn văn trong bài tập 2 gợi nhớ về đoạn nào trong câu chuyện Thỏ và Rùa? Hãy sao chép đoạn văn đó từ Thỏ và Rùa và so sánh với đoạn văn ở đây. Bạn thích cách kể chuyện trong đoạn văn nào hơn? Tại sao?
Phương pháp giải:
Tái hiện đoạn văn từ Thỏ và Rùa, có thể sao chép cả hai đoạn văn vào một bảng để so sánh. Cần xác định đoạn văn bạn ưa thích và giải thích lý do.
Giải chi tiết:
|
Trong văn bản Thỏ và rùa |
Trong đề bài |
|
Thế là trường đua được vạch ra. Con cáo làm trọng tài. Nó hú ba tiếng là cuộc thi bắt đầu. |
Trường đua lập tức được vạch ra. Con cáo làm trọng tài. Nó vươn cô hú lên ba tiếng: - Hú…u…uét! Hú…u…uét! Hú…u…uét! Thế là cuộc thi bắt đầu. |
Tôi ưa thích đoạn văn trong câu chuyện Thỏ và Rùa vì sự ngắn gọn, hàm súc trong cách kể chuyện của truyện ngụ ngôn; nhưng cũng có người thích đoạn văn được nêu trong đề bài vì việc mô phỏng tiếng hú - lệnh của trọng tài cáo - khiến cuộc thi bắt đầu hấp dẫn và sống động hơn.
Câu 4
Các đoạn văn trong bài tập 2 và 3 cho thấy: đối với các văn bản kể chuyện hàm súc, ngắn gọn như truyện ngụ ngôn, ta có thể điều chỉnh và bổ sung dấu chấm lửng ở một số vị trí thích hợp để làm phong phú hơn từ ngữ, câu văn hoặc tạo thêm không khí cho câu chuyện. Với mục đích tương tự, hãy bổ sung và chỉnh sửa các đoạn văn dưới đây để chúng có sử dụng dấu chấm lửng, đồng thời chỉ ra công dụng của dấu chấm lửng trong mỗi trường hợp:
a. Thế rồi nó dạng chân, duỗi tay, nhắm mắt ngủ ngon lành. Một húc sau, con rùa ì ạch bò tới. (Thỏ và rùa)
b. Sau đó, ông ban phát cho mỗi đứa một đôi đũa để bẻ, nhưng không ai có thể làm được. (Chuyện bỏ đũa)
c. Cáo nhảy lên và rớt xuống cả chục lần mà vẫn không thể bắt được một chùm nho nào. (Con cáo và quả nho)
d.- Ai mà muốn những trái nho xanh lè kia chứ. Chúng quá chua! Có thể lại có cả sâu bên trong nữa. (Con cáo và quả nho)
Giải pháp:
Hiểu rõ năm công dụng của dấu chấm lửng, tìm kiếm từ ngữ, hình ảnh, chi tiết để bổ sung và chỉnh sửa để sử dụng dấu chấm lửng một cách hiệu quả.
Nhận xét chi tiết:
|
TT |
Công dụng |
Ví dụ minh hoạ |
|
a |
Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng |
Thế rồi nó dạng chân, duỗi tay, nhắm mắt ngủ ngon lành. Tiếng ngáy mỗi lúc một to: khò...ò...khò...ò! Một lúc sau, con rùa ì ạch bò tới. |
|
b |
Biểu đạt ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết. |
Sau đó, ông truyền cho mỗi đứa đến bẻ bó đũa ra làm đôi. Một đứa, hai đứa,... rồi ba đứa,... cố sức bẻ. Nhưng không đứa nào bẻ nổi. |
|
c |
Biểu đạt ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết. |
Cáo nhảy lên rớt xuống, rồi lại nhảy lên rớt xuống,... có đến cả chục lần mà vẫn không bắt được một chùm thấp nhất. |
|
d |
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng. |
- Ai mà thèm những trái nho xanh lè đó. Chua lắm! Không chừng... lại có cả sâu trong đó nữa. |
Câu 5
Thay thế từng từ in đậm trong các đoạn văn dưới đây bằng những từ ngữ khác; so sánh mức độ phù hợp của từ ngữ thay thế với từ ngữ in đậm và nhận xét về cách chọn từ của tác giả dân gian trong mỗi đoạn:
- rối bời:
Theo thói quen, ếch đi lại một cách rối bời khắp nơi và phát ra tiếng kêu ồn ào. Nó rối bời nhìn lên bầu trời, không quan tâm đến môi trường xung quanh và bị một con trâu đi qua đè bẹp.
(Ớt ngồi dưới bụi cỏ)
- Chạm
Bỗng nghe người ta nói có sâu đi qua, năm thầy chung nhau đưa tiền biếu người quản sâu, mong sâu dừng lại để cùng xem. Thầy thì chạm vào cánh, thầy thì chạm vào thân, thầy thì chạm vào đuôi, thầy thì chạm vào mắt, thầy thì chạm vào chân.
(Thầy bói xem sâu)
- Cười méo mặt, nhăn mày:
Trong quá khứ, thỏ luôn cười nhạo con rùa về sự chậm chạp của nó. Tuy nhiên, con rùa thì tỏ ra bình tĩnh trước sự kiêu ngạo của thỏ.
(Thỏ và rùa)
- truyền đạt:
Ông buộc nhóm đũa lại thành một bó, để trước mặt các con. Sau đó, ông truyền cho mỗi đứa đến bẻ bó đũa ra làm đôi, nhưng không có đứa nào bẻ nổi.
(Chuyện bó đũa)
- âm thầm:
Một ngày kia, có con cáo đói khát đến vườn nho, nó âm thầm tiến vào để ăn trộm.
(Con cáo và quả nho)
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đề và tìm các từ thích hợp để thay thế, từ đó đưa ra nhận xét về sự lựa chọn từ ngữ của tác giả so với các từ thay thế.
Lời giải chi tiết:
|
TT |
Từ ngữ trong văn bản |
Từ ngữ thay thế |
Nhận xét |
|
1 |
nhâng nháo (Ếch ngồi đáy giếng) |
trâng tráo |
Từ “nhâng nháo” (ngông nghênh, vô lễ, không coi ai ra gì) phù hợp hơn từ “trâng tráo” (ngang ngược, xấc láo, tỏ ra trơ lì trước sự chê cười, khinh bỉ của người khác). |
|
2 |
sờ (Thấy bói xem voi) |
quan sát/ tìm hiểu |
Các từ “quan sát” hay “tìm hiểu” đều không thay thế được từ “sờ; vì không thể hiện được cách “xem voi” phiến diện, chủ quan dẫn đến tranh cãi xô xát của năm ông thầy bói. |
|
3 |
cười mũi (Thỏ và rùa) |
cười cợt/ chê cười |
Từ “cười mũi” rất hay: tự nhiên, thú vị; khó thay thế. |
|
4 |
dằn lòng (Thỏ và rùa) |
cố nhịn tức/ nén |
Từ “dằn lòng” rất hay: tự giận nhiên, dân dã; khó thay thế. |
|
5 |
truyền (Chuyện bó đũa) |
cho gọi/ triệu tập |
Từ “truyền” thể hiện được tính chất hệ trọng, thiêng liêng của lời sắp nói, điều sắp xảy ra; khó thay thế. |
|
6 |
Lẻn (Con cáo và quả nho) |
chui/ mò |
Từ “lẻn” (lẻn vào vườn nho) thể hiện một hành vi/ việc làm mờ ám; khó thay thế. |
Câu 6
Viết lại câu chuyện Con cáo và quả nho trong khoảng 150 - 200 chữ, sử dụng dấu chấm lửng, và lựa chọn quả nho hoặc con cáo làm người kể chuyện.
Phương pháp giải:
Đoạn văn cần có cấu trúc đầy đủ như một câu chuyện, và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu được đề ra.
- Nội dung được sáng tạo dựa trên cốt truyện Con cáo và quả nho nhưng có thêm những điều chỉnh và bổ sung để làm mới.
- Đoạn văn không vượt quá 200 chữ và tuân thủ yêu cầu về hình thức của câu chuyện.
- Người kể chuyện sử dụng góc nhìn của quả nho hoặc con cáo, xưng tôi để tạo cảm giác thân thiện và gần gũi.
Lời giải chi tiết:
Một ngày, tôi lạc bước vào vườn nho nơi triền núi. Dưới bóng cây xanh mướt, những trái nho đỏ mọng bóng lộng lẫy dưới ánh nắng. Tôi thèm như chưa từng thèm, nước miệng cứ rỉ ra. Không ai thấy, nho lại dày đặc như vậy, tôi không thể nào chịu được, liền lao đến ăn ngay một ít.
Tôi đứng thẳng, vươn tay nhặt nho. Nhưng giàn nho cao vút, dù vươn tới cùng cố gắng, tôi chỉ chạm được lá nho.
Không muốn rời xa vườn nho trắng tay, tôi vòng quanh tìm. Cuối cùng, tìm thấy một cành nho thấp hơn. Tôi nhảy lên, nhưng vẫn chẳng hái được một quả nào. Tiếp tục tìm, rồi lại thấy một chùm nho còn thấp hơn. Tôi vui mừng nói:
– Không có gì làm khó khăn được tôi, ha ha!
Nước miệng chảy dài, tôi nhảy lên, nhưng vẫn không thể chạm tới.
Tôi suy nghĩ:
– Tại sao lại phải cố ăn những chùm nho này nhỉ? Vỏ xanh xanh, có lẽ chưa chín. Chắc chắn là chua chát lắm, nuốt vào có khi phải nhổ ra, thật là không biết phải làm sao.
Rời xa vườn nho, tôi quyết sẽ không bao giờ ăn mấy trái nho xanh này nữa.
