Nêu các sự kiện quan trọng trong truyện Ông Sằn Nông.
Bài 1
Nêu các sự kiện chính của truyện Ông Sằn Nông.
Cách giải:
- Đọc lại văn bản truyện Ông Sằn Nông trong SBT Ngữ Văn 10, tập 1.
- Ghi lại các sự kiện quan trọng trong truyện Ông Sằn Nông.
Chi tiết giải:
- Ông Sằn Nông được phép mời các loại hạt về nhà.
Các hạt tự ra đồng mọc, rồi trở về kho, về bồ.
- Khi Ông Sằn Nông đi xa, vợ ông không mở kho, bồ cho thóc vào.
Thóc chờ lâu, bị vợ ông đánh đuổi.
- Ông Sằn Nông trở về mắng vợ, ra ruộng dỗ dành thóc nhưng không thành.
- Ông Sằn Nông nắm thóc bay lên trời, thóc tung ra thành các ngôi sao, sông Ngân Hà.
Lúa chín không tự về nữa, phải mang liềm ra gặt.
Bài 2
Chỉ ra những lời kể có tính suy nguyên trong văn bản.
Cách giải:
- Đọc lại truyện Ông Sằn Nông trong SBT Ngữ Văn 10, tập 1.
- Sử dụng kiến thức về thần thoại suy nguyên.
- Ghi lại các lời kể mang tính suy nguyên.
Chi tiết giải:
Những lời kể mang tính suy nguyên trong truyện Ông Sằn Nông:
“Nắm thóc ấy tung ra, rải rác thành các ngôi sao, còn chỗ tụ lại thì thành sông Ngân Hà bây giờ”
“Còn dưới trần gian từ đó, khi lúa chín, con người phải mang hái liềm ra gặt”.
Bài 3
Người chính trong câu chuyện là ai? Mục đích của nhân vật đó là gì?
Cách giải:
- Đọc lại truyện Ông Sằn Nông trong SBT Ngữ Văn 10, tập 1.
- Sử dụng kiến thức về thần thoại để trả lời.
Chi tiết giải:
- Nhân vật chính trong truyện là Ông Sằn Nông.
- Thần thoại suy nguyên được tạo ra để giải thích hiện tượng tự nhiên và những tập tục văn hóa.
- Trong truyện, Ông Sằn Nông giải thích sự hình thành của các vì sao, sông Ngân Hà.
- Ông cũng giải thích sự xuất hiện và biến đổi trong tập tính của thóc, mở đầu cho nền văn minh lúa nước của Việt Nam.
Câu 4
Trong tưởng tượng của người xưa, các loại hạt được dùng làm lương thực thuở sơ khai có đặc điểm gì? Sự tưởng tượng về các loại hạt đó thể hiện quan niệm gì của họ về thế giới?
Phương pháp giải:
- Đọc lại văn bản truyện Ông Sằn Nông trong SBT Ngữ Văn 10, tập 1.
- Vận dụng kiến thức về thần thoại để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
- Trong tưởng tượng của người xưa, các loại hạt được dùng làm lương thực thuở sơ khai tự sinh trưởng ngoài ruộng, đến mùa thu hoạch tự tìm về nhà, tự vào kho, vào bồ. Chúng cũng có cảm giác, cảm xúc và có thể “giao tiếp” với con người.
- Sự tưởng tượng đó thể hiện quan niệm của người xưa về thế giới “vạn vật hữu linh”.
Câu 5
Sự biến đổi trong đặc tính của thóc phản ánh những thay đổi nào trong cuộc sống của người xưa?
Phương pháp giải:
- Đọc lại văn bản truyện Ông Sằn Nông trong SBT Ngữ Văn 10, tập 1.
- Vận dụng kiến thức về thần thoại để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Sự biến đổi trong đặc tính của thóc phản ánh hành trình sống, quá trình tiếp cận cây lúa của người xưa: Phát hiện ra cây lúa, thừa hưởng thành quả có sẵn trong tự nhiên – chuyển từ đời sống hái lượm, hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên sang thuần hoá cây lúa, tìm ra cách gieo trồng, thu hoạch thóc lúa.
Câu 6
Sưu tầm một truyện thần thoại suy nguyên của dân tộc khác có nội dung tương tự với truyện Ông Sằn Nông. So sánh và nhận xét về điểm tương đồng giữa hai tác phẩm.
Phương pháp giải:
- Sưu tầm các thần thoại về cây lúa của các dân tộc khác như: Dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường…
- Đọc kĩ các văn bản để tìm ra điểm tương đồng, so sánh, nhận xét điểm khác biệt giữa các văn bản.
Lời giải chi tiết:
Nàng Tiên Lúa
Đời xưa mọi người không phải gặt, khi đã chín lúa kéo nhau về thành hàng, thành rẫy, đầy bịch, đầy sàn. Một nhà kia có tính lười, không quét tước dọn dẹp chỗ ở cho lúa, khi thấy lúa kéo nhau về mới hò hét nhau quét dọn, đã vậy lại còn mắng mỏ nhau. Bực mình, có một chàng trai đánh đập lúa, đắp cửa bịch, cửa nhà, không vào được, lúa ở ngoài chật đầy sân, đầy cửa. Lúa tức giận, từ đó cứ chín là rủ bông ngoài đồng, người cần thì phải đi gặt gánh lúa về.
Vì thế đến mùa lúa chín, chàng Côi, một thân một mình, phải vừa gặt, vừa gánh hết ngày này sang ngày khác vẫn không xong mà lúa vẫn còn đầy đồng. Ngày ngày, chàng Côi gặt đằng trước sắp hết thì đằng sau lúa đã chín. Bực mình chàng Côi ngồi khóc. Giữa lúc ấy nàng Tiên Lúa từ Mường trời xuống đi hái lá dâu nghe thấy; nàng xuống hỏi đầu đuôi và gặt giúp chàng Côi. Gặt đến đâu, nàng Tiên Lúa đạp gốc cho lúa gãy đi và đổ nước trầu đánh dấu đến đó. Vì vậy lúa không mọc nữa, đời sau muốn có lúa phải cấy. Thấy nàng Tiên Lúa phơi cánh ở bờ ruộng, khi gánh bó lúa chàng gánh cả đôi cánh vào trong đầu gánh lúa, gánh về nhà. Trời đã mưa, không có cánh bay về, nàng bèn theo chàng Côi về nhà cùng ăn ở….
(Trích sử thi thần thoại người Mường, NXB văn hoá thông tin, 2014)
Điểm giống:
Truyện Ông Sằn Nông và Nàng Tiên Lúa đều là các thần thoại suy nguyên nhằm giải thích giải thích sự hình thành của vạn vật và những tập tục trong đời sống văn hoá cộng đồng (Giải thích
sự xuất hiện và biến đổi trong tập tính của thóc).
Nội dung hai văn bản truyện Ông Sằn Nông và Nàng Tiên Lúa có nét tương đồng: Ban đầu lúa có kích thước rất lớn, tự gieo, mọc, kết bông rồi tự về nhà. Sau đó vì sự “lười biếng” và nóng giận của con người mà đặc tính của lúa thay đổi đi, hạt lúa nhỏ lại và con người phải gieo cấy, chăm sóc và đến mùa phải thu hoạch.
Điểm khác:
|
Đặc điểm |
Truyện Ông Sằn Nông |
Truyện Nàng Tiên Lúa |
|
Nhân vật chính |
Ông Sằn Nông |
Nàng Tiên Lúa |
|
Sự kiện chính |
Thóc chín tự về → bị vợ ông Sằn Nông đánh đuổi → Thóc kéo ra ruộng → Ông Sằn Nông dỗ dành không được, cùng một nắm thóc bay lên trời → hình thành các vì sao, sông Ngân Hà. |
Thóc chín tự về → bị chàng trai đánh đập → lúa tức giận cứ chín là rủ bông ngoài đồng → Chàng Côi đi gặt lúa chín không kịp → Nàng Tiên Lúa xuống giúp → Lúa không tự mọc mà phải cấy mới có. |
Nhận xét:
Cùng giải thích sự hình thành của vạn vật trong vũ trụ nhưng mỗi dân tộc lại có những nét khác nhau, thể hiện sự sáng tạo trong tư duy của con người cổ xưa → Tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc.
