
Câu hỏi 1
Câu 1 (trang 15 VBT Ngữ văn 9, tập 1)
Thêm vào các chi tiết thuyết minh sau bằng yếu tố miêu tả.
- Thân của cây…
- Lá chuối tươi…
- Lá chuối khô…
- Phần nõn của chuối…
- Bắp chuối…
- Quả chuối…
Phương pháp giải thích:
- Tập trung vào mô tả chi tiết bên ngoài, so sánh để làm rõ đối tượng thuyết minh.
- Ví dụ: lá chuối to bản, màu xanh mát, khi mới sinh ra, giống như một cuốn thư được cuộn lại. (Điều này làm cho Nguyễn Trãi viết rằng: 'Tình thư một bức phong còn kín'.)
Lời giải chi tiết:
Bổ sung yếu tố mô tả vào các chi tiết thuyết minh:
- Thân cây chuối có hình dạng trụ, bề mặt nhẵn bóng với nhiều lớp lá bẹ xếp chồng lên nhau từ bên trong ra ngoài.
- Lá chuối tươi to bản, màu xanh mướt, giống như một chiếc thuyền xanh úp ngược, tạo bóng mát cho cả bụi chuối.
- Lá chuối khô không còn màu xanh mà chuyển sang màu đất. Khi đó, lá không còn đứng thẳng lên mà vươn xuống, nằm sát vào nhau như vỏ bọc, che chở cho thân cây.
- Nõn chuối khi mới nảy lộc có màu xanh non rất đặc trưng, được gọi là màu nõn chuối. Từ trạng thái cuộn chặt, nõn chuối dần trở nên lớn hơn và tháo ra. Trong một thoáng, nõn chuối nở rộ thành hình dạng của một tàu chuối.
- Bắp chuối, còn được gọi là hoa chuối, có màu tím nhạt hoặc tím đậm. Bắp chuối nảy lên từ giữa thân cây chuối và tạo thành một bông hoa lớn chứa rất nhiều quả chuối non được xếp thành từng nải.
- Quả chuối được sắp xếp thành từng nải. Khi mới hình thành, nải chuối trông giống như một bàn tay xinh xắn có những ngón tay màu trắng hồng. Ngay cả khi lớn, nải chuối vẫn giữ được hình dạng của một bàn tay. Đây là lý do tại sao mọi người nói về người có bàn tay chuối may mắn!
Câu 2
Câu 2 (trang 15 VBT Ngữ văn 9, tập 1)
Đề cập đến yếu tố miêu tả trong đoạn văn:
Khi đến thăm trường Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, Bác Hồ đã đề nghị phát triển đồ sứ dân tộc với ý tưởng rất hay. Bác nhắc rằng người Việt thường dùng chén chứ không dùng tách. Tách là loại chén uống nước của người Tây, nó có tai. Chén của người Việt không có tai. Khi mời ai uống, chỉ cần bưng hai tay là đủ. Bác vừa cười vừa thực hiện động tác. Khi uống, người ta lại nâng hai tay xoa xoa trước khi uốn. Mà nước uống thì rất nóng. Đó, đó là nét đặc trưng của dân tộc. Bác nói thêm rằng, cái chén còn rất tiện lợi, do không có tai nên khi xếp chồng rất gọn, không bị vướng, khi rửa cũng dễ sạch.
(Theo Phạm Côn Sơn, Làng nghề truyền thống Việt Nam)
Phương pháp giải:
Đọc đoạn văn, tìm yếu tố miêu tả về hình dáng và tách chén, cách uống, cách rửa, khi thu dọn.
Lời giải chi tiết:
Yếu tố miêu tả trong đoạn văn: Tách là loại chén uống nước của người Tây, nó có tai. Chén của người Việt không có tai. Khi mời ai uống trà thì bưng hai tay mà mời. Có uống cũng nâng hai tay xoa xoa trước khi uống.
Câu 3
Câu 3 (trang 15 VBT Ngữ văn 9, tập 1)
Đọc văn bản Trò chơi ngày xuân trang 26, 27 và chỉ ra những câu miêu tả trong đó.
Phương pháp giải:
Chỉ viết những câu mô tả với yếu tố miêu tả rõ ràng.
Giải thích chi tiết:
- Các câu mô tả như sau:
+ Những chiếc thuyền thúng nhỏ đang diễu hành với những giai điệu dân ca, tạo không khí xuân ấm áp và lãng mạn.
+ Con lân được trang trí tinh xảo, có râu nhiều màu sắc, lông mày bạc, mắt to tròn, và thân thể với các hoa văn đẹp mắt.
+ Cả hai chỉ huy (ông chỉ huy, bà chỉ huy) của mỗi phe đều mặc trang phục rực rỡ từ thời xưa với cờ đuôi nheo treo chéo sau lưng và được che lấp kỹ lưỡng.
Loigiaihay.com
