| Trao cho | phim hoạt hình xuất sắc nhất có thời lượng trên 40 phút, phần lớn các nhân vật chính được hoạt hoạ, và ít nhất 75% thời lượng phim là hoạt hình |
|---|---|
| Quốc gia | Hoa Kỳ |
| Được trao bởi | Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh |
| Lần đầu tiên | 2024 |
| Đương kim | Thiếu niên và chim diệc (2023) |
Giải Oscar cho Phim Hoạt Hình Xuất Sắc Nhất là giải thưởng hàng năm do Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS) trao tặng cho các bộ phim hoạt hình. Theo định nghĩa của viện, một phim hoạt hình chiếu rạp là phim có thời gian dài hơn 40 phút, sử dụng kỹ thuật hoạt hình từng khung hình, với phần lớn các nhân vật chính được hoạt họa, và các phân cảnh hoạt hình chiếm ít nhất 75% tổng thời lượng phim. Giải thưởng này được trao lần đầu vào năm 2001.
Các đề cử và người thắng giải được lựa chọn bởi các thành viên của AMPAS. Nếu có ít nhất 16 phim được đề cử ở hạng mục này, thì giải thưởng sẽ được trao cho một trong năm phim hàng đầu (đã xảy ra bốn lần), nếu không thì chỉ có ba phim được đưa vào danh sách bình chọn cuối cùng. Giải thưởng này cũng chỉ được trao khi năm đó có ít nhất tám phim hoạt hình đủ điều kiện phát hành tại các rạp ở Los Angeles. Mặc dù phim hoạt hình có thể được đề cử ở các hạng mục khác, nhưng điều này rất hiếm: Người đẹp và quái thú (1991) là phim hoạt hình đầu tiên được đề cử ở hạng mục Phim Hay Nhất. Vút bay (2009) và Câu chuyện đồ chơi 3 (2010) cũng được đề cử ở hạng mục Phim Hay Nhất khi số lượng đề cử được tăng lên. Waltz with Bashir (2008) là phim hoạt hình duy nhất được đề cử ở hạng mục Phim Nước Ngoài Hay Nhất (dù không được đề cử ở hạng mục Phim Hoạt Hình Xuất Sắc Nhất). Pixar là hãng phim nổi bật nhất trong hạng mục này với chín phim được đề cử và bảy phim giành giải; chỉ có hai phim không được đề cử kể từ khi hạng mục này được thành lập, đó là Cars 2 và Monsters University.
Ngành công nghiệp hoạt hình và người hâm mộ kỳ vọng rằng giải thưởng và doanh thu từ việc chiếu phim sẽ thúc đẩy sự phát triển của phim hoạt hình. Tuy nhiên, một số người phê phán giải thưởng này, cho rằng Giải Oscar cho Phim Hoạt Hình Xuất Sắc Nhất chỉ được trao để làm giảm cơ hội của phim hoạt hình trong hạng mục Phim Hay Nhất. Làn sóng chỉ trích đặc biệt mạnh mẽ tại lễ trao giải Oscar lần thứ 81, khi WALL-E chiến thắng ở hạng mục này nhưng không được đề cử ở hạng mục Phim Hay Nhất, mặc dù được khen ngợi từ các nhà phê bình và khán giả, và được coi là một trong những phim hay nhất của năm 2008. Điều này đã dẫn đến nhiều tranh luận về việc liệu bộ phim có bị Viện Hàn Lâm loại bỏ có chủ ý khỏi danh sách đề cử không. Nhà phê bình phim Peter Travers bình luận rằng 'Nếu có một phim hoạt hình xứng đáng được đề cử ở hạng mục Phim Hay Nhất, đó là WALL-E'. Tuy nhiên, quy định chính thức của Giải Oscar cho phép bất kỳ phim nào được đề cử ở hạng mục này cũng có thể được đề cử ở hạng mục Phim Hay Nhất. Năm 2009, khi số lượng đề cử cho Phim Hay Nhất được tăng lên 10, phim Vút bay đã được đề cử ở cả hai hạng mục Phim Hoạt Hình Xuất Sắc Nhất và Phim Hay Nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 82, trở thành phim đầu tiên đạt được thành tích này kể từ khi hạng mục Phim Hoạt Hình Xuất Sắc Nhất được thành lập. Câu chuyện đồ chơi 3 cũng đạt thành tích tương tự ngay năm sau.
Danh sách phim thắng giải và đề cử
Thập niên 2000
| Năm | Đoạt giải | Đề cử | Nguồn |
|---|---|---|---|
| 2002 | Gã chằn tinh tốt bụng – Aron Warner |
|
|
| 2003 | Sen và Chihiro ở thế giới thần bí – Miyazaki Hayao |
|
|
| 2004 | Đi tìm Nemo – Andrew Stanton |
|
|
| 2005 | Gia đình siêu nhân – Brad Bird |
|
|
| 2006 | Wallace & Gromit: The Curse of the Were-Rabbit – Nick Park và Steve Box |
|
|
| 2007 | Vũ điệu chim cánh cụt – George Miller |
|
|
| 2008 | Chuột đầu bếp – Brad Bird |
|
|
| 2009 | Rôbốt biết yêu – Andrew Stanton |
|
|
| 2010 | Vút bay – Pete Docter |
|
Thập niên 2010
| Năm | Đoạt giải | Đề cử | Nguồn |
|---|---|---|---|
| 2011 | Câu chuyện đồ chơi 3 – Lee Unkrich |
|
|
| 2012 | Rango – Gore Verbinski |
|
|
| 2013 | Công chúa tóc xù – Mark Andrews và Brenda Chapman |
|
|
| 2014 | Nữ hoàng băng giá – Chris Buck, Jennifer Lee và Peter Del Vecho |
|
|
| 2015 | Biệt đội Big Hero 6 – Don Hall, Chris Williams và Roy Conli |
|
|
| 2016 | Những mảnh ghép cảm xúc - Jonas Rivera, Pete Docter |
|
21 |
| 2017 | Phi vụ động trời
- Byron Howard, Rich Moore, Jared Bush |
|
|
| 2018 | Coco
- Lee Unkrich |
|
|
| 2019 | Người nhện: vũ trụ mới - Peter Ramsey, Bob Persichetti, Rodney Rothman |
|
Liên kết tham khảo
- Cơ sở dữ liệu Giải Oscar - AMPAS Lưu trữ tại Wayback Machine vào ngày 13 tháng 09 năm 2008
Giải Oscar |
|---|
Giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất |
|---|
