Toán học cuối cùng cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng con người, một ý tưởng thú vị - đó là cảm nhận của giáo sư toán học Lê Quang Nẫm.
Toán học cuối cùng cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng con người, một ý tưởng thú vị.

Tháng 6-2024, tôi gặp Lê Quang Nẫm ở TP.HCM, nhớ lại 24 năm trước tôi từng viết bài báo 'Lê Quang Nẫm làm văn với toán' đăng báo Tuổi Trẻ năm 2000. Lúc đó Nẫm là sinh viên của trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM (ĐHQG TP.HCM). Anh xuất bản quyển sách Tìm kiếm để học Toán dưới dạng nhật ký toán học.
Lê Quang Nẫm sang Mỹ làm tiến sĩ tại Viện Toán học Courant, và trở thành giáo sư Đại học Indiana (Mỹ). Ngày 14-7-2024 tới đây, anh cùng đồng nghiệp Ovidiu Savin (Đại học Columbia, Mỹ) sẽ nhận Giải thưởng Frontiers of Science của Đại hội Khoa học cơ bản quốc tế (International Congress of Basic Science) diễn ra tại Đại lễ đường nhân dân Trung Quốc - dành cho những bài báo đăng trên các tạp chí hàng đầu.
Hành trình 24 năm trở thành nhà giải toán hàng đầu không chỉ để Lê Quang Nẫm vượt qua từng thử thách của toán học, mà còn là chặng đường của một nhà khoa học nhận thức về ý nghĩa của cuộc sống và tư duy làm việc. Liệu nhìn nhận về toán có thay đổi so với ngày xưa? Có thể áp dụng điều khác vào toán học để giải quyết vấn đề?...
Tuổi Trẻ đã có cuộc trò chuyện với giáo sư Lê Quang Nẫm nhân dịp này.
* Chào anh, mới đây người con trai đã 20 năm đã trở thành một nhà toán học 44 tuổi. Đã dành nửa cuộc đời cho toán học, anh đã tìm thấy điều gì trong toán học mà anh cần tìm?
- Khi còn ở làng quê Quảng Ngãi, tôi chỉ biết về toán qua những thiên tài được đề cập trên sách báo và những học sinh giỏi toán. Tôi tự hỏi 'khoảng cách' giữa hai đối tượng đó là ai? Cha mẹ muốn tôi vào Bách khoa, vì toán được xem là một trong 10 nghề 'khổ cực' nhất. Nhưng tôi đã chọn toán, bởi vì tôi tự hỏi toán tồn tại để làm gì nếu bạn không phải là thiên tài như Newton?
Một thời gian dài, tôi vẫn không tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để sống bằng nghề toán? Cho đến khi tôi nhận được chế độ đãi ngộ dành cho giáo sư toán tại các đại học nghiên cứu ở Mỹ, với mức lương cao mà không cần phải dạy nhiều, được hỗ trợ nghiên cứu, tôi hiểu rằng người ta sẽ thuê những người giỏi toán để giải quyết những vấn đề mới, và cuộc sống vẫn cần những người truyền cảm hứng.

* Và vẻ đẹp của toán trong anh vẫn còn nguyên vẹn? Có lúc anh khẳng định rằng tất cả công việc chúng ta đang làm đều là ảo tưởng, điều này có ý nghĩa gì?

- Khi bắt đầu học toán, tôi thấy nó đẹp nhưng khó để định lượng vẻ đẹp. Tuy nhiên, theo thời gian, tôi nhận ra rằng toán học là kết quả của sự tưởng tượng của con người, một điều rất thú vị. Không chắc rằng toán học có thực sự tồn tại, nhưng người ta có thể trả lương tốt cho bạn để giải quyết những vấn đề này.
Bất kỳ lĩnh vực nào, chỉ khi chúng ta tạo ra sự khác biệt thì mới thành công. Trong nghiên cứu, nếu chỉ nhìn vào vấn đề từ góc độ thông thường, chúng ta chỉ đạt được kết quả trung bình. Để tiến xa hơn, phải nhìn thấy điều gì đó khác biệt hơn, thậm chí là áp dụng kiến thức từ các lĩnh vực khác.
Một ví dụ điển hình là giải bài toán số 19 của Hilbert: Một lớp phương trình đạo hàm riêng quan trọng trong vật lý, mô tả các hiện tượng cân bằng, có thể được nghiên cứu thông qua việc quan sát... ngựa vằn! Vì các cấu trúc hình học giống như ngựa vằn cũng có sự cân bằng giữa các điểm lồi lõm.
* Theo anh, phẩm chất nào quan trọng trong nghiên cứu?
- Lãng mạn nhưng phải biết cách kết thúc vấn đề. Tương tự như bữa ăn của người phương Tây luôn kết thúc từng món, không phải thừa. Ý tưởng hay nhưng nếu không biết viết ra hoặc không kết thúc được, người khác sẽ kết thúc và chúng ta mất quyền ưu tiên.
* Nhìn lại, anh nghĩ một người có nên dành phần lớn cuộc đời chỉ cho một đam mê?
- 24 tuổi tôi sang Mỹ, đặt ra mục tiêu nếu đến 26 tuổi không phát hiện được gì mới mẻ, tôi sẽ từ bỏ toán. Xem trao giải Oscar trên TV, diễn viên Salma Hayek trên sân khấu đã nói một ý gợi mở về bản thân tôi, đó là 'mỗi người cần kể ra một câu chuyện'. Gợi ý của cô ấy giúp tôi đặt câu hỏi về câu chuyện của mình và giải quyết một số vấn đề trong nghiên cứu.

Mỗi người đều biết mình nên dành bao nhiêu thời gian cho một đam mê. Riêng tôi không lăn tăn về lý do tại sao tôi yêu thích toán.
Sinh ra ở nông thôn nhưng tôi không nhận diện được lúa sâu rầy. Tôi không thể vào Bách khoa vì không biết vẽ kỹ thuật chi tiết máy móc. Tôi cũng mù màu và không phân biệt được hóa chất, môn sinh học ở cấp ba không hiểu gì... Toán là lựa chọn hợp lý nhất dành cho tôi. Mẹ từng nói tôi lớn lên sẽ không có cơm để ăn nhưng không sao, có nhiều ngày tôi không ăn cơm vẫn sống được.
Quan trọng là tìm lĩnh vực công việc phù hợp với bản thân. Sau đó, để sống lâu với toán, tôi tồn tại trong những câu hỏi, hỏi nhiều và tìm cách giải quyết. Tôi cũng học cách chấp nhận thực tế rằng không phải lúc nào cũng có thể nghiên cứu được gì, nhưng khi còn trẻ, chắc chắn phải vượt qua những thử thách trong nghiên cứu.

* Quá trình hòa nhập với thế giới có đối mặt khó khăn không? Ngoại ngữ hay cái gì là rào cản lớn?
- Ngoại ngữ hay sự bị ‘hù’ là trở ngại lớn nhất, nhưng tôi không thấy quá nghiêm trọng. Để khắc phục điều này, tôi đã chọn học lại tiếng Việt. Tôi đã đọc hầu hết sách về tiếng Việt của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Đức Dân và thấy việc tiếp cận ngoại ngữ dễ hơn nhiều.
Dù viết bằng tiếng Anh, người ta có thể nhận ra mình không giỏi như người bản xứ. Âm điệu tiếng Anh cũng có vẻ giống như nhạc jazz, chỉ cần nhấn mạnh vào những từ quan trọng. Một điều về vật chất có thể gây trầm cảm rất lớn với du học sinh lại chính là… tiêu hóa, thích nghi với ẩm thực ngoài nước. Đó là một phát hiện nghiêm túc của tôi.
Có phải bạn muốn hỏi về sự phân biệt đối xử hay công bằng không? Đôi khi vẫn có sự phân biệt đối với người châu Á trong môi trường đa quốc gia. Nhưng hãy tiếp tục làm việc chăm chỉ và nhất quán, giá trị của bạn sẽ được công nhận, dù có những điều mà bạn không thể kiểm soát.
* Thực sự, trình độ tri thức của Việt Nam có khác biệt so với thế giới không?
- Giới hạn trong phạm vi tốt nghiệp đại học toán trong nước và đi sang Tây Âu và Mỹ làm tiến sĩ, tôi nghĩ nhiều năm trước không có sự khác biệt đáng kể, vì số lượng du học sinh ít, hầu hết được đào tạo chuyên nghiệp.
Gần đây, số lượng nhà nghiên cứu trẻ đến Âu Mỹ tăng đáng kể, có thể do sự đa dạng hay vì phương pháp giảng dạy toán đã thay đổi.
* Anh có từng hối tiếc về những kiến thức đã được dạy tại Việt Nam không?
- Tôi đã nhận được một nền giáo dục tốt. Nhưng giả sử tôi có trải nghiệm một nền giáo dục kém hơn, tôi vẫn coi đó là kinh nghiệm đáng nhớ và sự tư duy sẽ trở nên hấp dẫn hơn, vì đã trải qua những thử thách, sự suy ngẫm sâu sắc hơn và đánh giá cái tốt hơn.

* Anh là người đam mê văn chương nghệ thuật. Tốc độ đọc sách của anh hiện nay có thỏa mãn không? Văn chương có thực sự quan trọng đối với toán học hay chỉ là sở thích cá nhân?
- Tôi chỉ đọc hơn 4.000 trang mỗi năm, thua xa con trai 10 tuổi của tôi. Văn hóa đọc sách ở Mỹ rất phát triển từ nhỏ. Trẻ mẫu giáo có một giờ thư viện mỗi tuần và trẻ lớp 4 có đến 2 giờ. Mỗi năm, trẻ có thể đọc hơn 200 cuốn sách.
Các đồng nghiệp nước ngoài thường đọc nhiều sách văn chương và có thể so sánh chúng với nhiều phiên bản khác nhau. Với kiến thức rộng, họ có thể tranh luận sắc bén về nhiều chủ đề, bao gồm cả toán học.
Nhiều người có kiến thức sâu rộng tham gia giải đáp các câu hỏi mở về toán rất thú vị và đóng góp thêm những câu hỏi hay của riêng họ.

* Nhiều bạn đọc nhớ về người cha từng đạp xích lô giữa Sài Gòn nuôi anh theo học Năng khiếu toán. Sự mất mát của ông ấy vẫn là nỗi đau không dứt của anh…
- Một thời gian, tôi thực sự cảm thấy trống vắng. Có nhiều nuối tiếc khi tôi chọn con đường rời xa cha mẹ mình, mặc dù điều đó là sự đánh đổi khi theo đuổi đam mê mà cha mẹ tôi luôn khuyến khích.
Ba tôi là một người cha tuyệt vời. Dù có những khác biệt vì tuổi tác và tính cách, sự không hoàn hảo luôn là điều tất yếu trong cuộc sống. Nhưng nhờ đó, tôi học được nhiều bài học quý giá để dạy dỗ con mình trong những tình huống tương tự.
* Xin cảm ơn giáo sư.
