(Tổ Quốc) - Loài hải ly mới được phát hiện - Microtheriomys actiulaquaticus, đại diện cho loài gặm nhấm bán thủy sinh lâu đời nhất tại Bắc Mỹ và là loài hải ly lưỡng cư lâu đời nhất trên thế giới.
Loài hải ly bán thủy sinh cổ đại nhất được xác định trước đó là Steneofiber eseri, sống ở Pháp cách đây 23 triệu năm. Tuy nhiên, hiện tại các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra một loài hải ly mới, có niên đại còn lâu đời hơn - Microtheriomys actiulaquaticus sống ở khu vực ngày nay là Montana, Hoa Kỳ, cách đây khoảng 30 triệu năm (kỷ nguyên Oligocen).
Microtheriomys actiulaquaticus không có bộ lông phẳng giống như các loài hải ly ngày nay, chế độ ăn của chúng cũng chủ yếu là thực vật thay vì gỗ và kích thước của chúng cũng khá nhỏ.

Tiến sĩ Jonathan Calede, nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học bang Ohio và là tác giả của nghiên cứu được đăng trên tạp chí Royal Society Open Science cho biết: “Hải ly và các loài gặm nhấm khác có thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về quá trình tiến hóa của động vật có vú'.
“Hãy nhìn vào sự đa dạng của cuộc sống xung quanh chúng ta hiện nay, bạn sẽ thấy có những loài gặm nhấm như sóc bay, những loài gặm nhấm nhảy như chuột túi, các loài thủy sinh như chuột xạ hương và động vật đào hang như chuột chũi”.
“Có một sự đa dạng đáng kinh ngạc về hình dạng và hệ sinh thái. Và việc tìm hiểu về sự đa dạng đó sẽ là câu hỏi quan trọng trong việc nghiên cứu quá trình tiến hóa của động vật có vú”.
“Gặm nhấm là nhóm động vật có vú phong phú nhất trên Trái Đất, và khoảng 4/10 các loài động vật có vú hiện vẫn tồn tại là gặm nhấm. Để hiểu sâu hơn về sự đa dạng sinh học đặc biệt này, việc nghiên cứu các loài gặm nhấm là rất quan trọng”.
Vật liệu hóa thạch của Microtheriomys actiulaquaticus - bao gồm một số răng, hai xương astragali và một phần xương khác - đã được khôi phục từ Hệ tầng Renova.
Tiến sĩ Calede đã thực hiện 15 phép đo trên hóa thạch xương mắt cá chân và so sánh chúng với các phép đo tương tự từ 343 mẫu vật của các loài gặm nhấm hiện đại cũng như các họ hàng của hải ly cổ đại.

Bằng cách thực hiện các phân tích tính toán dữ liệu theo nhiều cách, ông đã đưa ra một giả thuyết mới về sự tiến hóa của hải ly lưỡng cư, đề xuất rằng chúng bắt đầu bơi như một cách thích nghi với môi trường sống mới.
Tiến sĩ Calede nói: “Trong trường hợp này, việc thích nghi với việc đào hang đã được chọn để chuyển sang phương thức vận động bán thủy sinh”.
“Tổ tiên của tất cả các loài hải ly có thể là loài đào hang, và tính bán thủy sinh của loài hải ly hiện đại có thể đã phát triển từ hệ sinh thái đào hang. Hải ly đã chuyển từ việc đào hang sang việc bơi trong nước”.
“Hóa thạch của các loại khác được tìm thấy tại nơi phát hiện hóa thạch của Microtheriomys actiulaquaticus đã cho thấy rằng nơi này từng là một môi trường nước, cung cấp thêm bằng chứng cho giả thuyết”.
Phân tích kích thước cơ thể của hải ly trong suốt 34 triệu năm qua đã cho thấy quá trình tiến hóa của chúng tuân theo quy luật được gọi là Luật Cope, mà theo đó các sinh vật trong các dòng tiến hóa sẽ tăng kích thước theo thời gian.

Castoroides, hay còn gọi là hải ly khổng lồ, là một loại hải ly to lớn, có kích thước như gấu và đã tuyệt chủng sống ở Bắc Mỹ trong kỷ Pleistocen. Có hai loài được công nhận, C. dilophidus ở Đông Nam Hoa Kỳ và C. ohioensis ở phần còn lại của phạm vi của chúng. C. leiseyorum trước đây đã được mô tả từ Irvingtonian của Florida, nhưng hiện nay được coi là không hợp lệ. Tất cả các mẫu vật được mô tả trước đây là C. leiseyorum được coi là thuộc về C. dilophidus .
Và loài hải ly có kích thước lớn nhất từng được ghi nhận bởi giới cổ sinh vật học là Castor, đây là một loài hải ly khổng lồ đã tuyệt chủng và có kích thước bằng một con gấu đen sống ở Bắc Mỹ cách đây khoảng 12.000 năm.
Trước khi tuyệt chủng, loài hải ly này đã rất phát triển. Hoá thạch của chúng được tìm thấy ở nhiều địa điểm từ Florida đến Alaska và Yukon. Chúng có trọng lượng lên đến khoảng 100kg.
So với hải ly hiện nay, hải ly khổng lồ không có cái đuôi dẹp mà thay vào đó là một cái đuôi nhỏ dài hơn. Răng cửa của chúng cũng lớn hơn, cong hơn và không sắc nhọn như hải ly hiện đại.
Loài hải ly này đã tuyệt chủng đột ngột vào thời kỳ kết thúc kỷ băng hà, cùng với nhiều loài động vật khác, bao gồm cả voi ma mút. Hiện có rất ít thông tin chắc chắn về sự tương tác giữa con người và Castoroides. Tuy nhiên, các dấu vết của Castoroides đã được phát hiện cùng với các công cụ của con người trong Hang Sheriden. Có nhiều lý thuyết khoa học khác nhau về sự tuyệt chủng của hải ly Castoroides. Và cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra nguyên nhân chính xác cho việc tuyệt chủng của loài này.
Các nhà khoa học cho biết chúng phát triển mạnh mẽ ở vùng khí hậu nóng ẩm, được tìm thấy ở các vùng đất ngập nước cổ đại. Chúng không có thói quen “cắt cây” hoặc ăn thực vật như loài hải ly hiện đại, mà chúng ăn thực vật sống dưới nước.
Thói quen ăn thực vật dưới nước khiến chúng phải sống ở vùng ngập nước và do đó dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu.
Tham khảo: Sci; Smithsonianmag; Zme
