Trong suốt 80 năm vừa qua, các lực lượng không quân trên toàn thế giới đã sử dụng năm thế hệ máy bay chiến đấu phản lực. Đặc điểm chung của tất cả năm thế hệ này là động cơ phản lực, một phát minh cách mạng đến mức sau khi công nghệ này ra đời, Hoa Kỳ đã không chế tạo bất kỳ chiếc máy bay chiến đấu nào có cánh quạt nữa.
Động cơ phản lực đã mang lại những cải tiến đáng kể cho khả năng hoạt động của máy bay chiến đấu. Nó giúp chúng vượt qua rào cản về âm thanh, mang theo một lượng lớn bom mà trước đây chỉ có thể thực hiện bởi các máy bay ném bom kích thước lớn và bay gần rìa của không gian. Bài viết này sẽ đề cập đến năm thế hệ máy bay chiến đấu phản lực đã được sử dụng cho đến nay và cũng nhắc đến thế hệ sắp tới: máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu.Thế hệ đầu tiên (1942): Sao chổi và Sao băng
Năm 1941, chiếc máy bay trang bị động cơ phản lực đầu tiên của quân Đồng minh, chiếc Gloster E.28/39 của Anh, đã được bí mật cho thao diễn trước các quan chức Lực lượng Không quân và Lục quân Hoa Kỳ. Sau đó, các quan chức này yêu cầu ngành công nghiệp Mỹ chế tạo chiến đấu cơ phản lực của riêng họ. Là một phần trong dự án cấp thiết này, hãng Bell Aircraft đã tạo ra P-59 Airacomet (Sao chổi), đây là máy bay phản lực đầu tiên ở Mỹ. Sự phát triển của Airacomet được giữ bí mật. Bell thậm chí còn che phủ thân máy bay bằng vải bạt để che đi các cửa hút gió lớn, một tính năng chỉ có ở máy bay phản lực, đồng thời bổ sung thêm một cánh quạt giả ở phía trước, đóng vai trò như công cụ ngụy trang. Máy bay này thực hiện chuyến bay đầu tiên vào tháng 10 năm 1942 nhưng nó chưa bao giờ được sử dụng trong chiến đấu.
Nguyên mẫu của chiếc Gloster E.28/29 vào tháng 4/1941. Ảnh: Baesystems.
Để bảo mật, P-59 Airacomet đã được ngụy trang bằng một cánh quạt làm từ gỗ. Ảnh: Lịch sử Hàng không.
Chiến đấu cơ Lockheed P-80 Shooting Star bên cạnh động cơ của nó. Ảnh: Facebook.Thế hệ thứ nhì (1958): Thời kỳ kết hợp giữa Động cơ phản lực và Tên lửa
F-86 Sabre của Bắc Mỹ không phải là chiến đấu cơ phản lực đầu tiên mà Mỹ sản xuất, nhưng lại là chiếc đầu tiên được trang bị tên lửa không đối không. Sự kết hợp này vẫn rất mạnh mẽ cho đến ngày nay. Tiêm kích F-86 Sabre đã rất thành công, với gần 10,000 máy bay được chế tạo và 30 quốc gia trên thế giới sử dụng, bao gồm cả Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. F-86 được xem là máy bay chiến đấu thế hệ thứ hai, xuất hiện chỉ vài năm sau những chiếc phản lực cơ thời chiến như Me262 và Meteor.
Một chiếc F-86A Sabre được bảo quản tại Lễ Hội Hàng không Kemble 2008, Vương quốc Anh. Ảnh: Wikipedia.
Năm 1958, Không quân Bồ Đào Nha (FAP) nhận được 50 chiếc F-86F từ kho hàng cũ của Không quân Hoa Kỳ (USAF). Một số chiếc F-86F trước đó của Không quân Na Uy cũng được mua để dự phòng trong giai đoạn 1968–9. FAP đã triển khai một số chiếc F-86F Sabre của mình tới Guinea thuộc Bồ Đào Nha (tức Guinea-Bissau, nay là một quốc gia nhỏ ở Tây Phi) vào năm 1961 và đóng tại Căn cứ Không quân Bissalanca, Bissau. Những máy bay này được sử dụng trong Chiến tranh giành độc lập của Guinea-Bissau, trong các hoạt động tấn công mặt đất và hỗ trợ chặt chẽ chống lại lực lượng nổi dậy. Vào tháng 8/1962, chiếc F-86F mã hiệu 5314 trượt khỏi đường băng khi hạ cánh khẩn cấp với bom vẫn còn gắn trên các điểm cứng dưới cánh và bị đốt cháy. Một chiếc F-86F khác bị hỏa lực mặt đất của đối phương bắn hạ vào ngày 31 tháng 5/1963 nhưng phi công đã phóng ra an toàn và được cứu thoát. Một số máy bay khác bị hư hại khi chiến đấu nhưng đã được sửa chữa.
Năm 1964, 16 chiếc F-86F tại Bissalanca đã trở về đất liền Bồ Đào Nha do áp lực từ Hoa Kỳ. Chúng tham gia 577 chuyến bay chiến đấu, trong đó có 430 nhiệm vụ tấn công mặt đất và hỗ trợ gần.
Một chiếc F-86F của Không quân Bồ Đào Nha. Đến khi thế hệ tiêm kích thứ 6 chuẩn bị ra đời, những chiếc F-86 này vẫn bay rất tốt. Ảnh: imodeler.Thế hệ thứ ba (1961): Động cơ phản lực hoàn thiện
F-4 Phantom đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hàng không quân sự Hoa Kỳ từ năm 1961 đến 1996. Với động cơ phản lực mạnh mẽ J-79, F-4 có khả năng bay nhanh hơn và mang được nhiều bom hơn so với máy bay ném bom trong Thế chiến II. Nó là một máy bay đa nhiệm linh hoạt, có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như chiến đấu không đối không, tấn công, hỗ trợ gần, trinh sát và áp chế phòng không. F-4 được xếp vào thế hệ thứ ba của máy bay chiến đấu.
Các chiếc F-4F của Không quân Đức bay vào ngày 21 tháng 1 năm 1998. Ảnh: Wikipedia.
F-4 Phantom xuất hiện sau chỉ 16 năm kể từ khi Thế chiến II kết thúc, đánh dấu sự bước tiến vào thế hệ thứ ba của máy bay chiến đấu. Với tốc độ tối đa 1,711 mph (2753 km/giờ) và độ cao bay lên tới 18,200 mét, nó vượt xa chiếc P-51D Mustang và oanh tạc cơ B-29 Superfortress. Mặc dù nhẹ hơn nhưng có khả năng mang theo nhiều vũ khí hơn gấp đôi, với tổng tải trọng 8,164 kg. Tất cả điều này chỉ cần một phi hành đoàn gồm hai người, ít hơn nhiều so với oanh tạc cơ B-29.
RF-4E Phantom II của Không quân Hy Lạp với livery đặc biệt, hạ cánh tại RIAT 2008, Vương quốc Anh. Ảnh: Wikipedia.Năm 1964: Sự ra đời của máy bay với cánh xoay
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, một trong những tiến bộ đáng chú ý nhất trong lĩnh vực hàng không là 'cánh xoay' hoặc cánh có khả năng thay đổi hình dạng. Cánh nghiêng về phía trước giúp cải thiện độ ổn định và khả năng điều khiển ở tốc độ thấp, đặc biệt hữu ích trong các hoạt động như cất cánh và hạ cánh. Ngược lại, cánh nghiêng về phía sau giúp máy bay bay nhanh hơn bằng cách giảm lực cản. Thiết kế cánh xoay cho phép máy bay thích ứng với cả hai điều kiện này, tạo ra sự linh hoạt trong các tình huống bay khác nhau.
Bốn góc quay của chiếc F-111 Aavark. Ảnh: .
Một máy bay F-14D Tomcat thực hiện nhiệm vụ trên vùng Vịnh Ba Tư năm 2005. Hình dạng của nó có nhiều điểm tương đồng với F-111 Aardvark ngoại trừ phần đuôi thăng bằng dọc và bánh lái phía sau. Ảnh: Wikipedia.Năm 1971: Sự ra đời của cất cánh và hạ cánh thẳng đứng
Năm 1971, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ chứng kiến sự xuất hiện của chiếc chiến đấu cơ đầu tiên trên thế giới có khả năng cất cánh và hạ cánh thẳng đứng. Đó là AV-8A Harrier, sản xuất bởi công ty Hawker Siddeley của Anh. Đặc biệt, Harrier được trang bị động cơ Rolls-Royce Pegasus có khả năng hướng lực đẩy theo mọi hướng, cho phép nó hoạt động từ không chỉ đường băng sân bay mà còn từ các tàu Hải quân Hoa Kỳ. Đây là một bước tiến đột phá trong công nghệ hàng không quân sự.
Một máy bay tiêm kích TAV-8A Harrier của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Ảnh: Wikipedia.
AV-8A Harrier sau đó đã được nâng cấp lên mẫu tiêm kích cao cấp hơn là AV-8B Harrier II. Sự quan tâm của Thủy quân lục chiến đối với khả năng cất cánh thẳng đứng và hoạt động trên đường băng ngắn đã dẫn tới yêu cầu sản xuất một phiên bản đặc biệt của F-35 Lightning II, được biết đến là F-35B, với các tính năng tương tự.
Một máy bay tiêm kích AV-8B Harrier II của Không quân Ý thể hiện khả năng bay lơ lửng. Ảnh: Wikipedia.
Chiếc AV-8B Harrier II của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thực hiện cất cánh thẳng đứng từ tàu USS Bataan, năm 2023. Ảnh: Pop Mech.Thế hệ thứ tư (1978): Một thế hệ sẽ không phai mờ
Các máy bay chiến đấu của Mỹ từng phải đối mặt với nhiều thách thức trong Chiến tranh Lạnh. Kinh nghiệm trong thời kỳ chiến tranh đã chỉ ra rằng các máy bay phản lực thế hệ thứ ba có kích thước lớn, tốc độ chậm và hiệu suất hoạt động không cao trong các trận chiến không gian như thập kỷ 70. Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của các máy bay chiến đấu như F-16 Fighting Falcon, ra mắt vào năm 1978. F-16 kết hợp tỷ lệ lực đẩy trên trọng lượng cao với khả năng cơ động đặc biệt, tạo ra một chiến binh không chiến vượt trội.
Một chiếc F-16 Fighting Falcon tại Căn cứ Không quân Osan, Hàn Quốc. Ảnh: Osan.
Các máy bay thế hệ thứ tư vẫn giữ được giá trị trong thời gian dài nhờ các cải tiến liên tục. Các cập nhật này bao gồm sự cải tiến của các vũ khí chính xác được điều khiển từ xa, cải thiện radar và việc áp dụng các tên lửa không đối không tiên tiến như AIM-9L Sidewinder và AIM-120 AMRAAM. Ngay cả sau 45 năm kể từ khi F-16A ra đời, loại máy bay này vẫn được sản xuất. Thực tế, các phiên bản mới như F-16V vẫn đang được sản xuất tại tiểu bang Nam Carolina.
Phiên bản mới nhất của F-16, F-16V, được trưng bày trong kho chứa máy bay. Ảnh: Lockheed Martin.Năm 1983: Sự xuất hiện của máy bay tàng hình
Cách đây bốn thập kỷ, ý tưởng về một chiếc máy bay có khả năng tránh được phát hiện bởi radar chỉ là một giấc mơ. Việc mất mát nhiều máy bay quan trọng trong quá khứ đã dẫn đến câu hỏi: liệu có thể tạo ra một chiếc máy bay mà radar không thể phát hiện được không? Về lý thuyết, một chiếc máy bay được thiết kế với hình dạng đặc biệt để giảm sự phản xạ của sóng radar và được sơn bằng loại sơn hấp thụ sóng radar có thể tránh qua các hệ thống phòng thủ của đối phương mà không bị phát hiện. Nếu máy bay này được trang bị bom dẫn đường laser, không chỉ có thể ném bom một cách chính xác mà còn có khả năng sống sót cao.
Một máy bay F-117A đang được trưng bày tại Triển lãm không quân. Ảnh: Bảo tàng không quân Sac.Vào năm 1983, trong khi mọi người đang mơ mộng về một máy bay chiến đấu với khả năng vô hình, một chiếc đã bí mật đi vào hoạt động. Chiếc F-117A Nighthawk, được phát triển, chế tạo và thử nghiệm mà không một ai biết, lúc đó đang thử nghiệm tại Cơ sở thử nghiệm Tonopah ở bang Nevada. Tổng cộng, chỉ có 59 chiếc máy bay này được chế tạo. Chúng lần đầu tiên tham chiến trong cuộc chiến ở Panama năm 1989. F-117A cũng đã tham gia vào Chiến dịch Bão Sa mạc năm 1991, chiến dịch can thiệp của Liên Hiệp Quốc vào Nam Tư năm 1999, chiến dịch ở Afghanistan năm 2001 và cả cuộc chiến ở Iraq năm 2003.
F-117A là chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên được thiết kế dựa trên công nghệ vô hình để sử dụng trong tác chiến. Ảnh: Cơ cấu phổ biến.Thế hệ thứ năm (2005): Tiêm kích Raptor và các đồng minh
Vào cuối những năm 1980, một chương trình được gọi là Dự án Tiên phong Công nghệ Chiến đấu (ATF) được khởi đầu với mục tiêu tạo ra một loại máy bay chiến đấu mới thay thế cho chiếc F-15 Eagle. Máy bay mới này sẽ là máy bay chiến đấu đầu tiên được thiết kế để chiến đấu không đối không với khả năng vô hình tích hợp từ đầu. Nó sẽ được trang bị động cơ Pratt & Whitney F119 mạnh mẽ đến mức có thể bay vượt qua tốc độ âm thanh. Ngoài ra, nó còn được trang bị một hệ thống radar sử dụng công nghệ quét mảng điện tử chủ động, cho phép phát hiện mục tiêu từ rất xa. Quá trình phát triển loại máy bay này đã bị chậm lại khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhưng cuối cùng, vào năm 2005, nó đã được đưa vào phục vụ với cái tên F-22 Raptor.
F-22 Raptor thực hiện bay thử nghiệm với động cơ Pratt & Whitney F119 hoạt động ở công suất tối đa trong chế độ đốt phụ, tại căn cứ không quân Edwards, bang California. Ảnh: Wikipedia.F-22 là máy bay chiến đấu đầu tiên của thế hệ thứ năm và các tính năng của nó đã thiết lập tiêu chuẩn cho thế hệ này. Sau F-22, các máy bay khác như Thành Đô J-20 “Mighty Dragon” của Trung Quốc, Sukhoi Su-57 và F-35 Lightning II của Mỹ cũng đã được phát triển. Tất cả các máy bay này đều có tính năng tương tự như F-22. Tổng cộng chỉ có 195 chiếc F-22 được sản xuất.
F-22 với các vũ khí treo bên ngoài. Ảnh: Wikipedia.
Tiêm kích F-35C đang đậu trên tàu USS Lincoln. Ảnh: Breakingdefense.Thế hệ thứ sáu (2020)
Các máy bay chiến đấu F-22 và F-35 đã được phát triển trong một thời kỳ khá yên bình, đây chính là lý do tại sao mỗi chiếc máy bay trong số chúng mất hơn 10 năm để đi từ ý tưởng đến sản phẩm hoàn chỉnh. Với việc Nga và Trung Quốc đã cùng phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm của riêng mình, Không quân và Hải quân Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu về các máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu đầu tiên. Cả hai lực lượng quân đội này đều đang thiết kế các loại máy bay chiến đấu của riêng mình và gọi chúng là Sự thống trị không gian không gian thế hệ tiếp theo (Next Generation Air Dominance, hay NGAD).
Ý tưởng về tiêm kích NGAD thế hệ thứ 6 của Lockheed Martin. Ảnh: Sandboxx.Vào tháng 9 năm 2020, Không quân Mỹ đã công bố rằng họ đã phát triển, thử nghiệm và thử bay một mẫu tiêm kích mới, cũng được gọi là NGAD. Ngay cả sau ba năm, vẫn chưa ai biết nó trông như thế nào hoặc nó có thể thực hiện được những gì. Việc nói chắc chắn vẫn còn quá sớm, nhưng có thể chiến đấu cơ thế hệ thứ sáu sẽ có các tính năng như radar có thể được điều chỉnh lại cho các mục đích khác nhau, máy bay không người lái có khả năng chiến đấu mà không cần phi công và có thể hoạt động như một máy bay robot hỗ trợ, cũng như động cơ có thể thích ứng để tối ưu hóa tốc độ hoặc hiệu suất nhiên liệu sử dụng.
Một ý tưởng khác của Lockheed Martin về chiến đấu cơ thế hệ thứ sáu. Ảnh: Pop Mech.Theo [1], [2].