

Bùi Kiến Thành duy trì liên lạc với phó Vụ trưởng Vụ Mĩ châu Nguyễn Xuân Phong và Thứ trưởng Lê Mai của Bộ Ngoại giao. Lê Mai chịu trách nhiệm trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ Việt - Mĩ. Để bình thường hóa quan hệ giữa hai quốc gia, một vấn đề then chốt mà đại diện Mỹ tại Bangkok (Thái Lan) đặt ra là xử lý tài sản bị tịch thu của Việt Nam và tài sản bị tịch thu của Mỹ tại Việt Nam. Chưa tìm được hướng đi, Lê Mai yêu cầu Bùi Kiến Thành thu thập thông tin xem hai bên đang giữ của nhau những gì. Ông Thành liên hệ với Bộ Ngoại giao Mỹ, được Bradshaw, người phụ trách Việt Nam trong khu vực châu Á Thái Bình Dương (East Asia Pacific - EAP), giới thiệu cho luật sư Lawrence Serra ở San Diego, California. Ở Mỹ, một số vấn đề Bộ Ngoại giao không giải quyết mà được giao cho các văn phòng luật sư.
“Bác Thành gặp trực tiếp ông Serra. Ông Serra cung cấp toàn bộ tài liệu cho ông Thành xem. Sau chiến tranh, Chính phủ Mỹ đưa ra quyết định cho phép tất cả những người Mỹ có tài sản bị mất mát, bị tịch thu tại Việt Nam trước ngày 30/4/1975 phải khai báo. Cơ quan Foreign Assets Claims của Bộ Tài chính Mỹ được thành lập để theo dõi, triển khai và giám định tất cả các tài liệu khai báo. Chính phủ Mỹ tổng hợp lại và đại diện cho những người đó trong quá trình thương lượng với Việt Nam. Bác xem danh sách khai báo theo thứ tự A, B, C, bên kia là giá trị tài sản. Họ đã khai báo hàng trăm mục nhưng chỉ có hơn chín mươi mục được chấp nhận. Có những số tiền khác nhau, từ 1.000 USD, 2.000 USD, đến mấy chục nghìn USD… Thông qua ông Serra, vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1992, tôi mời một số luật sư có khả năng đến Việt Nam để phỏng vấn và thực hiện nhiệm vụ giải quyết.”
“Cách giải quyết của mình như thế nào thưa ông?”
Trong năm đó, 90% của tài sản được duyệt nằm trong tay của sáu ông lớn trong ngành dầu khí, cộng thêm khoảng 67 triệu USD từ Chính phủ Mỹ cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thời Nguyễn Văn Thiệu để nhập khẩu hàng nông sản, tính đến thời điểm đó, giá trị đã lên tới hơn 200 triệu USD. Giải quyết những khoản lớn đó chỉ là vấn đề nhỏ. Mỹ đã liệt kê danh sách tài sản của Việt Nam mà họ đã tịch thu, bao gồm villa của Đại sứ quán Chính quyền Miền Nam Việt Nam tại Mỹ, và rất nhiều vàng và USD mà Ngân hàng Trung ương Mỹ đã giữ từ thời Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gửi qua, thông tin này rất chi tiết. Sau khi xem xét và định giá, tổng tài sản đó cũng lên đến khoảng 300 triệu USD. Hai con số từ hai bên gần như nhau, Chính phủ Hà Nội đã nói rằng, chúng tôi không có lý do gì phải trả tiền cho Mỹ thay cho những gì họ đã tịch thu. Mỹ lại hỏi, bây giờ thì ông có muốn lấy nhà villa của sứ quán Việt Nam Cộng hòa ở Washington không? Vàng và USD mà họ gửi vào Ngân hàng Trung ương Mỹ ông có muốn lấy không? Lấy tài sản của người khác thì có, nhưng trả nợ thì ông lại không chịu, thế là sao? Việc tịch thu tài sản của Hà Nội không phải là không có cơ sở. Bác Thành đề nghị với Chính phủ rằng, chúng ta nên giải quyết vấn đề này một cách kịp thời, họ đề nghị như thế nào thì chúng ta nên chấp nhận. Bác cũng nói với bên Mỹ rằng, nếu họ đòi tiền, Việt Nam cũng không có tiền để trả, việc xây dựng mối quan hệ ngoại giao quan trọng hơn việc tranh cãi về số tiền đó. Phía Mỹ nói, chúng tôi không thể điều tra vào Quốc hội Mỹ và nói rằng họ không nhận được tiền, các ông cứ giữ đi, chúng tôi không đòi, chúng tôi sẽ để lại số tiền đó để hỗ trợ phát triển văn hóa của Việt Nam, ví dụ như đưa những người Việt Nam qua Mỹ du học.
Khi trở về Việt Nam vào thời điểm đó, Bùi Kiến Thành đã được sắp xếp gặp Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Hai người đã ngồi trò chuyện ở căn nhà gần cổng vào vườn cây Phủ Chủ tịch trên đường Hoàng Hoa Thám.
Có những lúc có thêm một vài người khác ngồi nghe, như Nguyễn Ngọc Trân, Trưởng Ban Việt Kiều Trung ương; Vũ Đức Đam, người rất trẻ, là thư ký cho ông Kiệt lúc ấy; hoặc là anh Nguyễn Thiệu, thành viên Ban Tiền tệ... Ông Kiệt cho biết, ông đang gặp khó khăn với một công ty Mỹ tên là Crestone đã ký hợp đồng với Chính phủ Trung Quốc để khai thác lô dầu khí 134 trên Biển Đông của Việt Nam. Tôi nói, nếu không sử dụng quân đội, thì chúng ta phải dùng luật pháp. Ông Kiệt đề nghị tôi qua Bộ Ngoại giao xin cuốn Sách Trắng của Lê Văn Lựu, nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa. Tuy nhiên, đây chỉ là tài liệu do Việt Nam tự nghiên cứu, không đủ cơ sở pháp lý quốc tế để sử dụng. Tôi cũng muốn đưa ra tòa án quốc tế để kiện Trung Quốc và Mỹ về việc xâm phạm lãnh thổ, nhưng để đưa ra tòa án quốc tế, chúng ta cần sự đồng ý của bên đối tác, nên không thể thực hiện được. Bác Thành gợi ý với ông Kiệt, tại sao không nghĩ ra các biện pháp khác, như thuê một công ty luật hàng đầu của Mỹ nghiên cứu cơ sở pháp lý cho chúng ta?
Chúng ta có thể làm việc đó ngay cả khi Mỹ đang áp đặt lệnh cấm vận chúng ta sao?
Trong tình huống này, ông Kiệt đã xử lý rất thông minh. Ông nói rằng anh Nguyễn Xuân Phong đã viết một tài liệu về quan điểm của Chính phủ Việt Nam đối với việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích, và đã mang tài liệu này sang Bộ Ngoại giao Mỹ. Việt Nam sẵn lòng hỗ trợ tối đa Chính phủ Mỹ trong việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích dưới tinh thần nhân đạo, không phải vấn đề chính trị, cũng không phải là sự nhượng bộ. Bác Thành nói: 'Đây là một tài liệu chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam, nhưng vì chưa có quan hệ ngoại giao để chuyển giao, nên họ nhờ tôi chuyển giúp.' Điều này là để giới thiệu bác Thành với Chính phủ Mỹ, cho họ biết rằng tôi đang làm việc dưới sự ủy quyền thực sự. Sau khi họ cảm ơn, bác Thành mới nhân tiện trình bày vấn đề mà Chính phủ Việt Nam muốn giải quyết xung quanh tranh chấp Biển Đông dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế.
Họ rất ngạc nhiên, mắt trợn không tin vào tai mình: 'Bạn nói gì vậy? Bạn nói lại được không?' Tôi nói lại và họ bảo: 'Thú vị! Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy Chính phủ Hà Nội muốn giải quyết xung đột, tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế.' Bác Thành nói: 'Nhưng chúng tôi cần nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ sở pháp lý về chủ quyền của chúng ta trên thềm lục địa Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Để làm điều này, Chính phủ Việt Nam muốn kí hợp đồng thuê một công ty luật của Mỹ, nhưng do Mỹ đang cấm vận nên không thể thực hiện.' Vấn đề là, để thuê công ty luật Mỹ, Mỹ phải giải tỏa một phần của lệnh cấm vận. Bộ Ngoại giao Mỹ đã tỏ ý ủng hộ, nhưng quyết định đó phụ thuộc vào ý kiến của Tổng thống. Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá cao những việc Việt Nam đã hỗ trợ, như mời Hun Sen tham gia cuộc họp hoặc tham gia tìm kiếm những người Mỹ mất tích, do đó họ đã trình lên Nhà Trắng, không lâu sau đó họ thông báo rằng Tổng thống đã đồng ý.
Sau đó, Bùi Kiến Thành đề nghị Bộ Ngoại giao Mỹ giới thiệu một văn phòng luật sư để giúp Việt Nam. Bộ Ngoại giao Mỹ trả lời rằng họ không thể chỉ định một văn phòng luật sư cụ thể vì điều đó sẽ không công bằng với các văn phòng khác. Ông bèn đề xuất họ giới thiệu một số văn phòng luật hàng đầu của Mỹ. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cung cấp cho Việt Nam một danh sách các công ty luật, bao gồm:
Baker and McKenzie
Sullivan & Cromwell
Covington & Burling
Morgan, Lewis & Bockius
Steptoe & Johson
Whitman & Ransom
Kaplan, Russin & Vecchi
Từ danh sách này, Bùi Kiến Thành chọn ba công ty để mời sang Việt Nam phỏng vấn. Trách nhiệm phỏng vấn được giao cho Hà Huy Thông, một người của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. Công ty được kí hợp đồng là Covington & Burling. Chính công ty này đã đề xuất việc nới lỏng cấm vận cho Việt Nam, và điều này đã được các bên đồng ý trước. Việt Nam đã cử hai chuyên gia từ Ban Biên giới Chính phủ, đó là Vụ phó Trần Công Trục và luật sư Huỳnh Minh Chính sang Mỹ để hợp tác nghiên cứu, tham khảo và thu thập thông tin.
Năm 1992, Bùi Kiến Thành đã được con trai út Bùi Kiến Thái về nước để giúp đỡ trong một số công việc.
Tôi đề xuất Bùi Kiến Thành nói thêm về việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích.
“Ngay khi đến Hà Nội, theo yêu cầu của Bộ Ngoại giao Mỹ, bác Thành đã đến thăm phái đoàn tìm kiếm những người Mỹ mất tích để xem làm thế nào có thể giúp họ. Trưởng đoàn là Đại tá Donovan. Trong cuộc họp, còn có Đại tá Robert De State, một nhân viên của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ, đã từng làm việc ở Nam và giỏi tiếng Việt. Ông nói: 'Chúng tôi biết rằng trong Bảo tàng Quân đội Việt Nam có hàng nghìn tài liệu ghi chép chi tiết về những người Mỹ bị bắt và những chiếc máy bay bị rơi. Nếu chúng tôi có được những tài liệu đó, chúng tôi sẽ biết được tọa độ chính xác, nơi nào máy bay rơi... Có tài liệu, chúng tôi sẽ có cơ hội tìm thấy những người mất tích ở gần đó. Nhưng chúng tôi không được phép truy cập. Các anh có cách nào giúp được không?'
Hồ sơ về những người Mỹ mất tích tại Việt Nam là tài liệu cực kỳ mật được bảo quản tại Bảo tàng Quân đội, không phải ai cũng có thể xem. Sau nhiều suy nghĩ, cuối cùng, một phương án đã được đề xuất. Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ thuê một nhà báo Mỹ viết lịch sử chiến tranh và quân đội Việt Nam qua các thời kỳ. Người này sẽ nhận nhiệm vụ từ Quân đội Việt Nam và trở thành người của Chính phủ và Quân đội Việt Nam, có quyền truy cập vào các tài liệu cần thiết. Sau khi xem xét, ông báo cáo lại cho Chính phủ rằng đã tìm thấy những tài liệu hữu ích cho việc giúp Mỹ tìm kiếm những người Mỹ mất tích theo quan điểm nhân đạo như đã cam kết.

Trung tâm tìm kiếm những người Mỹ mất tích đã xin phép quét hơn 4.000 tài liệu dưới sự giám sát của Việt Nam. Văn phòng của trung tâm nằm ở khu Quần Ngựa ngày nay. Một ngày, Donovan mời bác Thành đến văn phòng, các cơ quan Mỹ rất lo lắng, như đang ngồi trên lửa. Đó là thời điểm quan trọng để Mỹ xác nhận giải tỏa một phần cấm vận đối với Việt Nam. Tổng thống Bush đang có cuộc họp tại Hawaii. Bác Thành ngồi đó nghe cuộc trò chuyện giữa Đại tá Donovan và trợ lý của Tổng thống Bush. 'Vậy đấy? Anh chắc chắn rằng tất cả tài liệu đều trong hộp chưa?' 'Chúng tôi đã có đủ.' 'Anh chắc chắn không? Anh phải chịu trách nhiệm đấy!' 'Vâng, thưa ngài.' Phía Mỹ, Donovan xác nhận tài liệu đã được chuyển, sau đó Bush đồng ý giải tỏa một phần cấm vận đối với Việt Nam. Tiếp theo là việc chuyển tài liệu quét qua hải quan sân bay về Mỹ. Bác Thành gọi điện cho Nguyễn Xuân Phong ở Bộ Ngoại giao. Lê Mai, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, xin ý kiến của Võ Văn Kiệt. Cuối cùng, họ đã sắp xếp cho Nguyễn Xuân Phong, Vụ phó Vụ Mỹ Châu, người được bổ nhiệm theo dõi chương trình tìm kiếm những người Mỹ mất tích tại Việt Nam, cùng với một sĩ quan Mỹ, hộ tống tài liệu ra sân bay và đưa tới máy bay quân sự Mỹ để chuyển về Mỹ. Nhờ vào việc này, việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích đã diễn ra nhanh chóng hơn. Qua đó, Mỹ đã thấy sự nhiệt tình của Việt Nam. Những tài liệu được quét trong chiếc hộp đó đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có Hợp đồng Nguyên tắc với AIG tại Đình Vũ, điều mà bác sẽ kể cho các cháu nghe sau này.”
Việc giải tỏa một phần cấm vận cho phép các công ty Mỹ ký kết các hợp đồng nguyên tắc với Việt Nam, tuy nhiên phải đợi cho đến khi cấm vận được hoàn toàn giải tỏa mới có thể thực hiện.
Ngày 11/6/1993, Bùi Kiến Thành thông qua Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Ngọc Thái gửi thư tới Thủ tướng Võ Văn Kiệt có tiêu đề Dầu khí và vấn đề quan hệ với Hoa Kì trong chuyến thăm Pháp của ông Võ Văn Kiệt, bức thư có đoạn:
“Vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1992, tôi đã tổ chức một đoàn luật sư Mỹ đến làm việc với Bộ Ngoại giao để nghiên cứu vấn đề giải quyết tài sản bị cấm vận, giải phóng các tài khoản của Việt Nam bị phong tỏa bởi Mỹ, bảo vệ biên giới biển trên thềm lục địa. Đồng thời, họ cũng nghiên cứu một loạt các chương trình kinh tế lớn, cơ sở hạ tầng, và đặc biệt là dầu khí.
Ngày 14/12/1992, Tổng thống Bush đã ra quyết định mở rộng lệnh cấm vận, cho phép các công ty Mỹ kí kết hợp đồng với Việt Nam. Người phát ngôn của Nhà Trắng cho biết đây chỉ là bước khởi đầu, và sẽ có nhiều bước tiếp theo sau khi Tổng thống Bush rời vị trí của mình, và mong chờ sự phản ứng tích cực từ phía Việt Nam.
Ngày 24/12/1992, Việt Nam đã ký hợp đồng với công ty Úc BHP để thăm dò khu vực Đại Hùng.
Mỹ đánh giá việc này như một dấu hiệu tiêu cực. Dường như Tổng thống Bush không thể đi xa hơn, bởi vì cánh cửa Tổng thống Bush vừa được mở ra đã bị Việt Nam đóng lại một cách vô ý.
Vấn đề dầu khí có một tiềm năng chiến lược lớn trong chính sách ngoại giao và quốc phòng của Mỹ. Mỹ gửi quân đến Vịnh không chỉ vì lý do tự do, dân chủ, nhân quyền mà còn vì nguồn dầu khí ở Trung Đông. Mặc dù Mỹ dường như không quan tâm đến khả năng dầu khí của Việt Nam để trấn an Trung Quốc, nhưng thực tế Mỹ đánh giá rất cao nguồn dầu khí chiến lược trên thềm lục địa Việt Nam. Trong bối cảnh tranh chấp kinh tế toàn cầu hiện nay, vấn đề nguyên liệu chiến lược là rất quan trọng. Chiến tranh giữa Mỹ và Nhật trong Thế chiến II đã bắt đầu từ vấn đề nguyên liệu cho kĩ nghệ Nhật.
Vì lý do đó, Mỹ đã im lặng cho phép Covington & Burling, một văn phòng luật sư hàng đầu về luật biên giới biển, làm việc với Bộ Ngoại giao Việt Nam để củng cố vị thế pháp lý của Việt Nam trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thông qua hành động này, Mỹ đã ngầm báo hiệu cho Việt Nam biết rằng họ đã bắt đầu hỗ trợ Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên thềm lục địa, một bước rất quan trọng trong chiến lược của Mỹ trong khu vực.
Trong khi Mỹ hỗ trợ bảo vệ cho thềm lục địa của Việt Nam, họ đã rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam đối với việc giải tỏa một phần cấm vận vào ngày 14/12/1992 và kí hợp đồng cho công ty Úc BHP để thăm dò khu mỏ Đại Hùng.
Cơ chế Hợp chúng quốc Hoa Kì buộc Chính phủ Mỹ phải bảo vệ quyền lợi của các công ty và công dân Mỹ trên mọi lãnh thổ. Nếu Việt Nam biết cách tổ chức quan hệ kinh tế với Mỹ, đặc biệt là về dầu khí, thì Chính phủ Mỹ sẽ có cơ sở pháp lý để hỗ trợ Việt Nam bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.”
Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng cho biết Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc đối thoại với Mỹ.
“Các bạn từ Bộ Ngoại giao hỏi tôi tại sao Mỹ khó khăn như vậy, đến đâu làm một ít rồi bỏ đi, không thể tiếp tục cuộc trò chuyện. Bùi Kiến Thành mới đưa vấn đề này lên hỏi Bộ Ngoại giao Mỹ, thì họ mới nói, về nhắn gửi Chính phủ Việt Nam rằng tại sao khi ra Liên Hiệp Quốc, bất kỳ vấn đề nào liên quan đến Palestine và Israel, Việt Nam đều bỏ phiếu cho Palestine và chống Israel. Chúng tôi biết rằng ông thân thiện với Palestine, họ ủng hộ ông trong thời kỳ kháng chiến nhưng thời kỳ đó đã qua, muốn mở quan hệ với Mỹ thì các bạn phải xem có cách nào mở cửa.”
Mỹ có 5% dân số là người Do Thái nhưng 5% dân số đó lại nắm giữ 90% tài chính, 90% các phương tiện truyền thông lớn. Không có một Tổng thống Mỹ nào có thể đắc cử nếu cộng đồng Do Thái quyết định phản đối. Không bỏ phiếu cho Israel tức là kẻ thù của Do Thái. Cộng đồng Do Thái chưa đồng ý thì Chính phủ Mỹ không thể làm gì. Nếu không ủng hộ tôi thì ít nhất cũng không được phản đối. Trong một số trường hợp, không bỏ phiếu, trong một số trường hợp, bỏ phiếu trắng, nhưng Việt Nam không bắt buộc phải bỏ phiếu chống Israel. Ngay sau đó, Bùi Kiến Thành đề xuất Chính phủ Việt Nam thay đổi cách tiếp cận với Israel, Bộ Ngoại giao trình bày và được Bộ Chính trị phê chuẩn.”
Ngày 12/7/1993, Việt Nam và Israel thiết lập quan hệ ngoại giao.
Trong thời gian cấm vận, bất kỳ sản phẩm nào có bằng sáng chế của Mỹ đều bị cấm bán cho Việt Nam. Ví dụ, Đại tá Lê Đông Hải, con trai của Đại tướng Lê Trọng Tấn đã nhờ Bùi Kiến Thành qua Mỹ hỏi công ty Bell mua một số bộ phận máy bay lên thẳng và trang thiết bị có thể tích hợp truyền thông giữa quân đội nhân dân và quân đội Mỹ ở Sài Gòn vì hai hệ thống khác nhau. Công ty Bell không bán được do lệnh cấm vận, nhưng họ chỉ mình sang Israel. Cuối cùng, tôi mời một đoàn chuyên gia Israel qua giúp đỡ. Mỗi lần Việt Nam hỏi cái gì mà Israel có thể giúp, họ đều chịu giúp ngay. Israel rất ấm áp với Việt Nam, một quốc gia nhỏ nhưng từng đánh bại quân đội lớn. Họ rất ngưỡng mộ. Thậm chí Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng Moshe Dayan đã viết nhiều bài về chiến lược 'chiến tranh nhân dân', 'quân đội nhân dân' của Việt Nam. Israel cũng áp dụng chiến lược 'chiến tranh nhân dân' để chiến thắng Ả Rập, cầm súng trên vai khi cày. Sau đó, quan hệ giữa Israel và Việt Nam rất chặt chẽ.”
Mỗi mục tiêu đều có những con đường mà chúng ta cần khám phá. Quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ là một hành trình khó khăn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, nhưng có lẽ rất ít người Việt Nam biết đến câu chuyện của những năm tháng ấy.

