Dù câu chuyện về các chú chó kéo xe ở Nam Cực luôn thu hút sự chú ý của mọi người, việc mèo bước chân tới nơi này có lẽ là điều không phổ biến và ít được biết đến.
Vào năm 1898, Carsten Borchgrevink đã sử dụng đội xe chó kéo ở Nam Cực để vận chuyển hàng hóa và nhân lực. Năm 1911, Roald Amundsen dẫn đầu một đội chó kéo xe tới cực nam của Trái Đất, nhưng chỉ có 14 con quay về an toàn sau hành trình khó khăn. Trước khi Nghị định thư về bảo vệ môi trường Nam Cực có hiệu lực, có hơn 1.400 con chó làm việc tại đây.

So với các chú chó kéo xe, mèo đến Nam Cực là hiếm thấy. Chỉ một vài con mèo được ghi nhận. Năm 1960, mèo Ginge từ Anh đến Trạm Nghiên cứu Nam Cực của Anh trên đảo Signy. Mặc dù không hữu ích trong nghiên cứu, nhưng chúng làm bạn và làm dịu lòng cô đơn của các nhà nghiên cứu.

Ginge.
Điều đặc biệt về việc di chuyển ở Nam Cực là chó kéo xe phải chịu lạnh và tuyết rơi, thậm chí ở nhiệt độ âm 30 độ C, ngủ ngoài trời. Khi cần, chúng phải chạy hàng chục km trong tuyết dày nửa mét, chịu đòn roi. Những con chó này thường trở thành nạn nhân đầu tiên khi gặp thảm họa.

Mèo ở Nam Cực thì khác biệt hoàn toàn. Chúng được yêu thương, ở trong nhà ấm áp, và không phải chịu đau khổ như chó. Mèo không phải trải qua những nguy hiểm như chó, và việc ngắm tuyết qua cửa sổ mỗi ngày là một cuộc phiêu lưu lớn đối với chúng.


Năm 1962, Kista, một con mèo cưng trong Nhóm nghiên cứu Nam Cực của Anh.
Tuy nhiên, một con mèo tên Mrs. Chippy lại có một số phận khác biệt so với những con mèo khác, trở thành một huyền thoại trong cuộc phiêu lưu của đoàn thám hiểm Shackleton vào năm 1914.
Dù tên là Mrs. Chippy, nhưng thực ra đó là một con mèo đực, ban đầu là thú cưng của Harry 'Chippy' McNish, một thợ mộc trên tàu Endurance. Được mang lên tàu khi McNish đang chuẩn bị, Mrs. Chippy trở thành một 'thiết bị' để tiêu diệt gặm nhấm trên tàu.

Mrs. Chippy và Perce Blackborow.
Khi tàu Endurance đến cảng Buenos Aires vào ngày 26 tháng 8 năm 1914, Perce Blackborow, một thanh niên Anh 19 tuổi, bí mật lẻn vào tàu và trở thành bạn của Mrs. Chippy. Sau này, Perce Blackborow thường xuyên phục vụ trà và trở thành bạn thân thứ hai của Mrs. Chippy.

Một đêm gần Nam Cực, Mrs. Chippy nhảy khỏi tàu, nhưng may mắn được cứu sống bởi thuyền trưởng Hubert Hudson. Trên tàu, Mrs. Chippy là một thợ săn tài ba và thường chọc tức các con chó kéo xe.

Trong suốt cuộc sống trên tàu, Mrs. Chippy là một thợ săn xuất sắc, nhưng cũng là một kẻ láu cá. Thường xuyên chọc tức các con chó kéo xe, nó làm mọi con chó trong chuyến hành trình này đều không ưa nó.

Ngay sau khi vào vùng biển Nam Cực, thủy thủ đoàn phát hiện không vượt qua vành đai băng trôi và đậu ở lục địa Nam Cực. Shackleton hy vọng theo các vết nứt băng, đợi nhiệt độ tăng vào mùa hè. Tàu Endurance mắc kẹt trong biển băng vào ngày 8 tháng 1.
Endurance thường phát hiện tiếng 'cót két' dưới băng. Shackleton chuyển đàn chó đến bề mặt băng an toàn, con mèo Mrs. Chippy bị bỏ lại trên tàu.

Thời gian khó khăn khiến thủy thủ giảm cân, ngoại trừ Mrs. Chippy, nó tăng gần 4,4 kg do được cho ăn nhiều lần.
Một số người không ưa Mrs. Chippy, như John Vincent, có lần muốn ném nó vào cũi cho chó ăn. May mắn, có người cứu nó kịp thời.
Lớp băng tan vào mùa xuân làm chìm Endurance. Mọi người sơ tán, nhưng lương thực lớn bị mất.
Shackleton phải bắn các con vật giảm thức ăn. Quyết định này cứu sống toàn bộ đội thám hiểm.
Quyết định của Shackleton cứu đội thám hiểm. Đội chó kéo xe và Mrs. Chippy hy sinh để cứu mọi người.

Sau chuyến khám phá, người thợ mộc cuối cùng định cư ở New Zealand và qua đời năm 1930.
Năm 2004, ở Wellington, Hiệp hội Nam Cực New Zealand đặt tượng đồng của Chippy tại nghĩa trang McKinnish’s Calorie Cevey để tưởng nhớ McNish và mèo của ông.
