
Năm 1990, Murakami giới thiệu tới công chúng Mĩ bản dịch truyện ngắn Người Ti-vi đăng trên tờ New Yorker số tháng 9. Việc xuất bản một truyện ngắn Nhật Bản trên tờ tạp chí văn học nổi tiếng ở Mĩ khi ấy, có thể nói, là một khoảnh khắc đột phá không chỉ đối với sự nghiệp của một người viết mà còn đối với việc dịch văn chương Nhật sang tiếng Anh nói chung. Sau sự xuất hiện thành công ban đầu này, sách của Murakami đã liên tục được dịch sang hơn năm mươi ngôn ngữ khác nhau, trở thành một trong những hiện tượng best-seller đáng ghi nhận nhất toàn cầu.
Nhưng nguyên nhân nào có thể lí giải sức hấp dẫn mới lạ của truyện Murakami? Edward Fowler khẳng định đó là một nền tảng thẩm mĩ mới, bứt thoát khỏi nỗi bi cảm lạ thường đã được thiết lập bởi bộ ba quyền lực Tanizaki, Mishima Yukio và Kawabata Yasunari. Khác với tác phẩm của các nhà văn kia, Murakami chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà văn Mĩ như Raymond Chandler, Kurt Vonnegut, Raymond Carver... Cùng tài nghệ pha trộn khéo léo các yếu tố của văn học kì ảo vào bối cảnh Nhật Bản đương đại, tác phẩm của ông mang tới độc giả thế giới ấn tượng mới về văn chương Nhật Bản. Đương nhiên, điều này dễ mang lại một ấn tượng “phi bản sắc” về văn chương Murakami dưới cái nhìn của nhiều nhà văn Nhật muốn gìn giữ một “truyền thống Nhật Bản”. Điển hình như những phê bình từ phía nữ nhà văn Mizumura Minae, một tác giả sinh ra và lớn lên ở Mĩ nhưng chủ động lựa chọn việc chỉ sáng tác bằng tiếng Nhật. Dù vậy, đúng như Stephen Snyder chỉ ra, một dòng mạch mới theo-kiểu-Murakami (Murakami-like) đã được nhen nhóm với những tên tuổi nổi bật như Ogawa Yoko, Kirino Natsuo… Xu hướng “quốc tế hóa” trong lối viết được Murakami khởi đầu mỗi lúc một rõ nét, mà gần đây nhất là hiện tượng cuốn tiểu thuyết viễn tưởng All You Need Is Kill (Tất cả những gì bạn cần là giết bỏ) đã được chuyển thể thành bộ phim bom tấn Hollywood Edge of Tomorrow (Đường biên của ngày mai).
Khác biệt so với các ý niệm thẩm mỹ của quá khứ, những người kể chuyện trong hầu hết các tác phẩm của Murakami đều là những nhân vật phổ thông - những con người bình thường trong xã hội Nhật hiện đại. Họ thường là những người đàn ông trung niên, sống ở thành thị, làm công việc văn phòng, mơ mộng và cảm thấy bị lạc lõng trong cuộc sống hàng ngày. Tương tự như những nhân vật trong tác phẩm của Raymond Carver, nhân vật của Murakami không phải là những biểu tượng của thành công xã hội hay chuẩn mực văn hóa, mà họ là những người tìm kiếm sự tự do và sự phóng túng trong một xã hội phức tạp. Những trải nghiệm của Murakami với văn hóa Mỹ từ khi còn trẻ đã làm nền tảng cho việc ông thể hiện sự đa dạng và sự tự do trong văn hóa đại chúng của mình.
Không chỉ giải phóng văn chương Nhật khỏi một bối cảnh và truyền thống cố định, sức hấp dẫn toàn cầu qua các bản dịch tác phẩm sang hơn năm mươi thứ tiếng của Murakami còn chứng minh sự thành công của một tham vọng khác, đó là giải phóng ngôn ngữ Nhật khỏi sự 'cô lập' trong hai ngàn năm: 'Nhiều người Nhật cho rằng ngôn ngữ của họ là độc đáo đến mức người ngoại quốc không thể hiểu được vẻ đẹp hay sự tinh tế của nó. (...) Nhật Bản cũng không bao giờ bị một quốc gia khác chiếm đóng ngoại trừ một thời kỳ ngắn sau Thế chiến II. Trong lịch sử, văn hóa Nhật không bị một nền văn hóa ngoại lai nào đe dọa. Nhưng cũng chính vì lý do đó mà tiếng Nhật đã bị cô lập trong hai ngàn năm. Đó là lý do người Nhật không ngừng kiên quyết về tính độc đáo trong bản chất, cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ Nhật. Tôi nghĩ đã đến lúc các nhà văn trẻ Nhật Bản cần phải sẵn lòng phá vỡ, loại bỏ sự cố chấp ương ngạnh đó; cần phản đổi chống lại sự cô đặc đó'. Murakami nhận ra một sự thật hơi đắng là sau chiến tranh, mọi thứ mà thế giới biết về Nhật Bản chỉ xoay quanh những thương hiệu như Nissan, Casio, Seiko, Honda, Sony... Thông qua việc hướng đến một loại văn chương có sức lan tỏa 'phi biên giới', ông và các nhà văn trẻ tiếp bước ông đã từng bước 'đưa Nhật Bản ra khỏi sự phong tỏa đã kéo dài quá lâu', thông qua nỗ lực 'tái cấu trúc ngôn ngữ dân tộc': 'Chúng tôi trân trọng vẻ đẹp và sự tinh tế của thứ ngôn ngữ mà Mishima từng sử dụng, nhưng thời đó đã qua. Chúng tôi cần một điều gì đó mới lạ. Và những gì chúng tôi, những nhà văn đương đại, đang cố gắng làm là vượt qua rào cản của sự cô độc cố hữu, để Nhật Bản có thể trò chuyện với phần còn lại của thế giới'.
1, 2, 3, 4. Roll Over Basho, 'Who Japan Is Reading, and Why', The New York Times, 27/9/1992.
Theo Thái Hà - VNQĐ
