Hát dân ca là một dạng hình nghi lễ dân ca tín ngưỡng của cộng đồng người Choang, dân tộc Tày, Nùng, một phần của nghi lễ Then. Hát dân ca mang tính trường ca, mang đậm màu sắc tín ngưỡng tái hiện cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc hoàng giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ.
Từ 'then' là từ đọc theo phương thức Chọi ngôn 'thiên' (天, tian) trong tiếng Choang, nghĩa là trời. Người Choang ở Trung Quốc cũng như người Tày và người Nùng xem hát then là hình thức ca hát dâng lên Trời (tức là Thần Tiên hay Ngọc hoàng Thượng đế sau khi bị ảnh hưởng bởi Đạo Giáo).

Nhạc cụ và lời hát
Âm nhạc là yếu tố chủ đạo trong hát dân ca. Hát dân ca có nhiều bài hát, phiên bản, và điệu nhảy. Người Tày, người Nùng không phân biệt tuổi tác, giới tính, những người mê tín cũng như không mê tín đều rất thích nghe hát dân ca.
Lời hát theo hình thức biểu diễn tổng hợp ca nhạc Đàn tính, múa, diễn với nhiều tình huống khác nhau. Nghệ sĩ biểu diễn đảm nhiệm vai trò của một nghệ sĩ tổng hợp. Họ vừa hát, tự đệm, vừa múa và biểu diễn để diễn giải nội dung câu hát, đôi khi còn biểu diễn cả các trò như nhai chén, dựng trứng, dựng gươm...
Trong hát dân ca mỗi điệu hát dân ca thì sắp xếp các phần khác nhau, có thể hiểu là đi theo những đường khác nhau hoặc sử dụng các lời hát khác nhau nhưng vẫn tuân theo một bản và kết thúc đều có kết quả giống nhau, cùng một hướng đi. Tất cả các thể loại hát dân ca đều đi qua các đoạn đường giống nhau: đôi khi lên rừng núi non thượng ngàn, đôi khi lên trời, thường là vượt qua các chốn thần tiên ở các nơi như: những chỗ lấy hồn lấy vía siêu lạc; khi săn bắt và bắn những con thú trên rừng về để giải hạn, khao tổ tiên, khao mẫu sinh hay mẹ sinh (mẫu ban lộc sinh đẻ); đến đoạn cuối cùng là qua hải hay còn gọi là khám hải: là cửa ải cuối cùng, vượt qua đây là đến được những nơi cần đến như: cửa mẹ sinh, vua cha ngọc hoàng hay một số nơi quan trọng khác... tùy loại hát; xong việc hồi lại binh mã trở về bàn sơn hay bàn thần gốc pháp, khao binh rồi tổ tiên gia chủ là xong việc (khao lao).
Với thể loại hát dân ca phổ biến của dân tộc Nùng Phàn slình, các thể loại hát dân ca với đội quân binh hùng hậu đều trải qua những giai đoạn quan trọng sau:
1. Sắp xếp binh mã chuẩn bị lên đường xuất phát lễ bàn.
2. Chuẩn bị ra quân để chỉ huy binh lính.
3. Khao binh.
4. Tôn kính thầy tổ pháp để chứng kiến con cháu phục tùng lệnh vị cao nhân.
5. Đến thờ công rồi vào cửa thờ công xét (thờ công nhập vào đồng và phán cho gia chủ biết về đất đai và vận mệnh)
6. Đến bếp (táo quân) rồi vào cửa xét, cửa này có thể một số loại hát then không cần vào.
7. Đưa lễ đẳng cha (tổ tiên gia chủ) rồi vào cửa xét.
8. Tiếp lễ lên nàng sliên (cửa thánh/cửa tiên. Cửa này ăn chay hoặc ăn mặn tùy theo quy định nhà gia chủ và đặc biệt cửa này chỉ có ở người Nùng; người Tày không có, nếu có thì được gọi là cửa tướng cửa pật (then) theo cách gọi của người Tày.
9. Tiếp lễ qua nàng sliên rồi lên rừng bắt mèng bắt ngoạn (bắt một loại côn trùng gần giống với ruồi về để thực hiện lời thề, xin lỗi và cầu bình an cho trẻ em trong nhà)
10. Đón vía tại cây lạng rồi đến cây vạt trên trời về.
11. Đi chợ Đinh Trung trên trời để vui chơi và mua đồ còn thiếu, mua tài lộc về cho gia chủ.
12. Đưa lễ đến chỗ mượn gậy yêu tinh để lên rừng săn hươu nai.
13. Đưa lễ qua đoạn cầu khắc cầu hai (nơi dành cho những người làm then hay làm thầy không kiêng kị được bị chết oan để dọn đường cho các binh mã tiến lên xê lễ).
14. Khao binh mã rồi lên rừng săn hươu nai (sau khi săn được hươu nai, sai lính xuống cửa sông cửa biển để rửa sạch rồi thịt và sắp cỗ, 30 cỗ thịt và 40 cỗ chay).
15. Vượt qua biển khảm hải để tống sao hạn xuống sông và vạn lấy vía về, nếu là then Nùng thì còn có thêm đoạn hát sli mượt mà để vạn lấy hồn vía về.
16. Đưa lễ đến nơi cần đến và giao lễ cho các thần, đó là nhiệm vụ của nhà thầy nhà thánh, binh mã đã hoàn thành, thong thả trở về.
Vậy là cuộc hành trình dài lên rừng xuống núi, lên trời xuống biển đã hoàn thành. Theo quan niệm mê tín, tiếng hát then thần kì đến mức người đang ốm đau chỉ nghe thấy thôi coi như thấy nhẹ lại người; then có nhiều tác dụng: chữa bệnh, giải hạn, cầu tài cầu lộc. Then thể hiện một nền văn hoá đa dạng của các dân tộc thiểu số.
Các vùng hát then
Tại Trung Quốc
Ở Trung Quốc, các vùng hát then phổ biến của dân tộc Choang gồm: Bách Sắc, Hà Trì, Liễu Châu, Quế Lâm, Hạ Châu, Nam Ninh, Lai Tân, Quý Cảng và Ngô Châu thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Chất then của dân tộc Choang mượt mà nhưng lại vang vọng, khác biệt so với then ở Việt Nam.
Ở Việt Nam

Năm 2018 có 16 địa phương sở hữu nghệ thuật then nhưng trọng tâm của nó tại 13 tỉnh miền núi phía Bắc: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Hiện tại, nghệ thuật then đã lan rộng đến các tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk và Thành phố Hồ Chí Minh khi người Tày và người Nùng di cư đến.
Mỗi vùng địa phương lại có những điệu then mang những nét đặc trưng riêng biệt:
- Nghệ thuật then ở Cao Bằng mềm mại, diệu dàng
- Nghệ thuật then ở Lạng Sơn tươi vui, phồn thịnh
- Nghệ thuật then ở Tuyên Quang hùng hồn như lối đi của quân đội
- Nghệ thuật then ở Hà Giang nhấn mạnh từng âm điệu một
- Nghệ thuật then ở Bắc Kạn thể hiện như câu chuyện kể bí mật
Chú thích
Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại tại Việt Nam |
|---|
Làn điệu hát các dân tộc thiểu số Việt Nam | |
|---|---|
Hát Ayray• Hát À day• Hát Ba sắc• Hát Bơk Weng non• Hát Cà lơi - Cha chấp• Hát cúng tìm vía• Hát dù kê• Hát duê• Hát đồng dao Kuh nrau, R’bàng nrau• Hát Êmê kha bá• Hát Khan• Hát khắp sên• Hát kưứt• Hát H'ri• Hát hà lều• Hát Lam leo• Hát lượn• Hát Lo khol• Hát sình ca• Hát sli• Hát soong hao• Hát Soọng-cô• Hát Thay mai• Hát tà oải• Hát then• Hát tiều• Hát vèo ca• Hát xà nớt• Hát xiêng• |
