

Hạt phỉ là hạt của cây phỉ bao gồm bất kỳ loại hạt nào có nguồn gốc từ các loài thuộc chi Corylus, đặc biệt là hạt của loài Corylus avellana. Nó còn được biết đến với tên gọi cobnut hay filbert nut dựa theo loài. Tại Việt Nam, đôi khi hạt phỉ thường bị nhầm lẫn gọi là hạt dẻ.
Quả phỉ có có dạng gần giống hình cầu hoặc hình ô-van, dài khoảng 15–25 mm (0,59–0,98 in) và đường kính khoảng 10–15 mm (0,39–0,59 in), có lớp áo xơ ở bên ngoài bao quanh phần vỏ nhẵn. Quả phỉ fillbert thon dài hơn, dài khoảng gấp đôi đường kính của nó. Phần hạt rơi ra khỏi phần áo khi chín, tầm 7 - 8 tháng sau khi thụ phấn. Phần nhân của hạt có thể ăn được và có thể dùng sống hoặc nướng chín lên, hoặc cũng có thể xay ra thành bột. Phần hạt có lớp vỏ mỏng màu nâu sậm, thỉnh thoảng được bóc ra trước khi nấu nướng.
Hạt phỉ được các cửa hàng bánh kẹo sử dụng để làm nhân kẹo hạt hoặc phối hợp với sô-cô-la để tạo ra bánh truffles sô-cô-la và các sản phẩm như Nutella và rượu Frangelico. Dầu hạt phỉ, được chiết xuất từ hạt phỉ, có mùi vị đậm đà và được sử dụng làm dầu ăn. Vào năm 2018, Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia sản xuất hạt phỉ lớn nhất thế giới, chiếm hơn 65% tổng sản lượng toàn cầu.
Hạt phỉ giàu protein, chất béo không bão hòa, vitamin E, mangan, và nhiều loại dưỡng chất thiết yếu khác (thông tin dinh dưỡng chi tiết bên dưới).
Lịch sử

Vào năm 1995, bằng chứng về việc xử lý hạt quả hạch vào thời kỳ đồ đá trung gian với tỷ lệ lớn (khoảng 9.000 năm trước) đã được phát hiện bên trong một cái hố tàn tích trên hòn đảo Colonsay ở Scotland. Di tích này bao gồm một cái hố lớn chứa hàng trăm nghìn vỏ hạt phỉ đã bị đốt cháy. Hạt phỉ đã được phát hiện ở các di tích thời kỳ đồ đá trung gian khác, nhưng hiếm khi tập trung ở cùng một hố hoặc có số lượng lớn như vậy. Các hạt này đã được định niên bằng cacbon phóng xạ, có tuổi khoảng 7720+/-110BP, tương đương khoảng 6000 năm trước Công nguyên. Các vùng tương tự ở Anh chỉ được biết đến tại Farnham, Surrey và Cass ny Hawom thuộc Đảo Man.
Khám phá này đã mang lại cái nhìn rõ hơn về kế hoạch và hoạt động cộng đồng vào thời kỳ trước đây. Các hạt phỉ được thu hoạch trong vòng một năm, phân tích phấn hoa cho thấy rằng tất cả cây phỉ đều được đốn hạ cùng một lúc. Mức độ hoạt động và thiếu vắng các cuộc săn bắn trên đảo cho thấy có lẽ nhóm người ở Colonsay đã ăn chay rộng rãi trong thời gian họ sống trên đảo. Cái hố ban đầu nằm gần bờ biển, liên kết với hai cái hố nhỏ hơn là một lò sưởi và một cụm hố thứ hai không rõ chức năng.
Phương pháp truyền thống để tăng năng suất hạt được gọi là 'brutting', bao gồm kích thích năng lượng của cây để ra hoa bằng cách chặt nhưng không làm cây bị đứt lìa, sau đó ghép thân hoặc cành chung với 6 - 7 nhánh lá của đỉnh chồi non vào cuối mùa trồng trọt. Thuật ngữ cổ để chỉ vùng trồng hạt phỉ là 'plat'.
Giống cây trồng
Nhiều giống cây trồng của cây phỉ bao gồm 'Atababa', 'Barcelona', 'Butler', 'Casina', 'Clark', 'Cosford', 'Daviana', 'Delle Langhe', 'England', 'Ennis', 'Fillbert', 'Halls Giant', 'Jemtegaard', 'Kent Cob', 'Lewis', 'Tokolyi', 'Tonda Gentile', 'Tonda di Giffoni', 'Tonda Romana', 'Wanliss Pride', và 'Willamette'. Một số trong số chúng được trồng với đặc tính đặc biệt như kích thước hạt lớn, thời gian thu hoạch sớm hoặc muộn, trong khi các giống khác được trồng để thụ phấn. Đa số hạt phỉ trong thương mại là hậu bản của sự lai giữa hạt phỉ thông thường và hạt phỉ filbert. Một giống cây ở Washington, 'DuChilly', có hình dạng dài thon, vỏ hạt mỏng vừa và ít đắng hơn, mang hương vị ngọt đặc trưng hơn so với các loại khác.
| Sản lượng hạt phỉ năm 2014 | |
|---|---|
| Quốc gia | Sản lượng ngàn tấn |

| Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g | |
|---|---|
| Năng lượng | 2.629 kJ (628 kcal) |
Carbohydrat | 16.70 g |
| Đường | 4.34 g |
| Chất xơ | 9.7 g |
Chất béo | 60.75 g |
Protein | 14.95 g |
| Vitamin | Lượng %DV |
| Vitamin A equiv. β-Carotene lutein zeaxanthin | 0% 1 μg0% 11 μg92 μg |
| Thiamine (B1) | 54% 0.643 mg |
| Riboflavin (B2) | 9% 0.113 mg |
| Niacin (B3) | 11% 1.8 mg |
| Acid pantothenic (B5) | 18% 0.918 mg |
| Vitamin B6 | 33% 0.563 mg |
| Folate (B9) | 28% 113 μg |
| Vitamin C | 7% 6.3 mg |
| Vitamin E | 100% 15.03 mg |
| Vitamin K | 12% 14.2 μg |
| Chất khoáng | Lượng %DV |
| Calci | 9% 114 mg |
| Sắt | 26% 4.7 mg |
| Magiê | 39% 163 mg |
| Mangan | 268% 6.175 mg |
| Phốt pho | 23% 290 mg |
| Kali | 23% 680 mg |
| Selen | 4% 2.4 μg |
| Natri | 0% 0 mg |
| Kẽm | 22% 2.45 mg |
| Other constituents | Quantity |
| Nước | 5.31 g |
| Tỷ lệ phần trăm được ước tính dựa trên khuyến nghị Hoa Kỳ dành cho người trưởng thành, ngoại trừ kali, được ước tính dựa trên khuyến nghị của chuyên gia từ Học viện Quốc gia. | |
Thu hoạch
Hạt phỉ được thu hoạch hàng năm vào giữa mùa thu. Khi mùa thu đến gần, cây sẽ rụng lá và hạt. Đa số người trồng thương mại đợi hạt tự rụng thay vì dùng dụng cụ để rung chúng khỏi cây. Việc thu hoạch hạt phỉ thường được thực hiện bằng tay hoặc cào hạt rụng bằng tay hoặc bằng máy móc.
Bốn thiết bị được sử dụng trong thu hoạch thương mại bao gồm: máy quét, máy gặt, xe chứa hạt và xe nâng hạ. Máy quét di chuyển hạt vào một hàng giữa, máy gặt đào và tách hạt ra khỏi các vật liệu khác (như cành hoặc lá cây), xe chứa hạt lấy hạt từ máy gặt và xe nâng hạ vận chuyển hạt đến bao lớn để chuyển đến máy sấy hạt.
Máy quét là loại máy chạy sát mặt đất qua mỗi hàng cây hai lần. Nó có một dải đai dài 2 mét gắn ở phía trước và xoay liên tục để quét lá, hạt và vật liệu khác từ hai bên để gom vào hàng giữa khi di chuyển thẳng. Phía sau máy quét là một máy thổi công suất lớn để thổi các vật liệu còn lại từ hàng kế bên với tốc độ gió lên đến 90 m/s. Chăm sóc cẩn thận và quét vào mùa thu có thể loại bỏ nhu cầu cào bằng tay quanh thân cây, nơi mà hạt có thể chất thành đống. Máy quét chuẩn bị hàng hạt ở giữa, đủ hẹp để máy gặt đi qua mà không làm rơi hạt. Thường chỉ quét một vài hàng phía trước máy gặt vào bất kỳ thời điểm nào để tránh làm rơi hạt từ cây xuống. Vườn hạt phỉ có thể thu hoạch tới ba lần trong mùa thu, tùy thuộc vào số lượng hạt trên cây và tỉ lệ rụng hạt do thời tiết.
Dinh dưỡng
Mỗi 100 gram hạt phỉ cung cấp khoảng 2.630 kilôjoules (628 kcal) và giàu (lớn hơn hoặc bằng 20% Giá trị hàng ngày, DV) nhiều chất dinh dưỡng quan trọng (xem bảng). Đặc biệt là giàu protein, chất xơ, vitamin E, thiamin, phosphor, mangan, và magie, tất cả đều trên 30% DV (xem bảng). Các vitamin B khác cũng có hàm lượng đáng kể. Những chất ít hơn nhưng vẫn quan trọng (hàm lượng trung bình, 10-19% DV) là vitamin K, calci, kẽm, và kali (xem bảng). Hạt phỉ chứa rất nhiều chất béo, chiếm 93% DV trong mỗi 100 gram. Các thành phần chất béo bao gồm axit béo không bão hòa đơn như axit oleic (chiếm 75% tổng), axit béo không bão hòa đa như axit linoleic (chiếm 13% tổng), và chất béo bão hòa như axit palmitic và axit stearic (chiếm tổng cộng 7%).
Hạt phỉ được sử dụng làm thành phần trong nhiều món ăn, bao gồm cả bánh quy Piccillatti ở Sicily.

Hạt phỉ được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ và Gruzia; trong các món ăn như churchkhela và satsivi, thường phối hợp với quả óc chó. Hạt này có thể được ăn tươi hoặc khô, mang đến nhiều hương vị khác nhau.
Liên kết ngoài
- Định nghĩa của hazelnut tại Wiktionary
