Hệ thống Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một phương pháp bói toán dựa trên triết lý của Kinh Dịch, kết hợp các lý thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành và bát quái, cùng với các yếu tố về vận khí. Phương pháp này sử dụng quẻ chính, hào động và quẻ biến để dự đoán dựa trên các hiện tượng quan sát được, số liệu đo đếm hoặc thời gian cụ thể (theo âm lịch).
Đối tượng được xem bói
Phương pháp này được dùng để bói về sự kiện, hiện tượng và vận mệnh của cá nhân, tương tự như các hệ thống như Tử vi và Bát tự Hà Lạc.
Nguồn gốc của hệ thống
Thiệu Ung (邵雍) (1011 - 1071), với tên tự là Nghiêu Phu (堯夫) và hiệu là Khang Tiết (康節), là một nhân vật nổi bật trong triều đại Bắc Tống của Trung Quốc. Ông đã nghiên cứu sâu về Dịch học và đóng góp nhiều vào việc phát triển nó. Thiệu Ung sử dụng bát quái để dự đoán thông tin, sáng tạo phương pháp lập quẻ từ các hiện tượng quan sát được hoặc từ thời gian cụ thể (theo âm lịch). Ông áp dụng các phép tính cộng - trừ để lập quẻ, xác định hào động, và phân tích vận khí cùng các yếu tố âm dương ngũ hành để giải đoán vận hạn. Bộ sách 'Mai Hoa Dịch số' của ông được coi là một trong Tứ Đại kỳ thư của văn hóa Trung Hoa, cùng với Kinh Dịch, Ma Y Tướng Thuật, và Địa Lý Toàn Thư.
Từ những năm 1980, Thiệu Vĩ Hoa (sinh năm 1936 tại Hồ Bắc, Trung Quốc), con cháu đời thứ 29 của Thiệu Khang Tiết, đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển phương pháp dự đoán của tổ tiên. Ông đã đạt được nhiều thành công đáng chú ý và nhiều tác phẩm của ông đã được dịch và phát hành tại Việt Nam.
Các nguyên tắc và nguyên lý
Có nhiều cách để lập quẻ trong Mai Hoa Dịch Số, bao gồm việc lập quẻ dựa trên số ký tự, số lượng vật đếm được, năm tháng ngày giờ, hoặc dựa vào tượng quẻ.
Lập quẻ đơn: Quẻ trừ 8
Khi tính quái, dù số lượng lớn hay nhỏ, cần trừ bớt đi số 8. Nếu số còn lại sau khi trừ 8 vẫn lớn hơn 8, tiếp tục trừ 8 cho đến khi số còn lại từ 8 trở xuống, sau đó xem xét quẻ.
Giá trị của các quẻ theo Tiên thiên bát quái được phân định như sau: Càn = 1; Đoài = 2; Ly = 3; Chấn = 4; Tốn = 5; Khảm = 6; Cấn = 7; Khôn = 8.
Tính hào động: Hào trừ 6
Để xác định hào động, cộng tổng số của Thượng quái và Hạ quái, thêm số giờ vào và trừ 6, tiếp tục trừ 6 cho đến khi số còn lại từ 6 đến 1. Nếu hào động là dương thì chuyển thành âm, ngược lại nếu là âm thì chuyển thành dương. Quẻ mới sẽ là quẻ biến, còn quẻ có hào động (chưa đổi) sẽ là quẻ dụng (quẻ khách).
Phương vị của tám quẻ
Vị trí tám quẻ tiên thiên theo Phục Hy
Danh sách tám quẻ theo thứ tự: Càn 1, phía Nam - Đoài 2, Đông Nam - Ly 3, phía Đông - Chấn 4, Đông Bắc: thuộc dương, di chuyển theo chiều ngược kim đồng hồ.
Tốn 5, Tây Nam - Khảm 6, phía Tây - Cấn 7, Tây Bắc - Khôn 8, phía Bắc: thuộc âm, di chuyển theo chiều kim đồng hồ.
Thứ tự các quẻ dựa trên mối quan hệ kết hợp của hào dương với lưỡng nghi và Tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm) tạo ra Càn, Đoài, Ly, Chấn; và âm kết hợp với lưỡng nghi và Tứ tượng tạo ra Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.
Vị trí tám quẻ Hậu thiên của Văn Vương kết hợp với Lạc thư
Thứ tự tám quẻ như sau: Càn, số 6 - Khảm, số 1 - Cấn, số 8 - Chấn, số 3 - Tốn, số 4 - Ly, số 5 - Khôn, số 2 - Đoài, số 7
Thứ tự của các quẻ dựa trên mối quan hệ Tương Sinh của ngũ hành và phương hướng của địa bàn:
- Càn tương ứng với Kim ở Tây Bắc
- Khảm tương ứng với Thủy ở chính Bắc
- Cấn tương ứng với Thổ ở Đông Bắc
- Chấn tương ứng với Mộc ở chính Đông
- Tốn tương ứng với Mộc ở Đông Nam
- Ly tương ứng với Hỏa ở chính Nam
- Khôn tương ứng với Thổ ở Tây Nam
- Đoài tương ứng với Kim ở chính Tây
Mối quan hệ khắc chế giữa âm dương và ngũ hành như sau:
- Càn Dương Kim ở Tây Bắc khắc Tốn Âm Mộc ở Đông Nam
- Khảm Dương Thủy ở chính Bắc khắc Ly Âm Hỏa ở chính Nam
- Cấn Dương Thổ ở Đông Bắc khắc Khôn Âm Thổ ở Tây Nam
- Đoài Âm Kim ở chính Tây khắc Chấn Dương Mộc ở chính Đông
Phương pháp lập quẻ
Năm, tháng, ngày, giờ
Mai Hoa Dịch có hai trường phái chính là Mai Hoa Dịch Số và Mai Hoa Thần Số. Thường thì tài liệu công khai chỉ đề cập đến Mai Hoa Dịch Số, trong khi Mai Hoa Thần Số thường chỉ được truyền bá mật.
Dưới đây là hướng dẫn lập quẻ theo phương pháp Mai Hoa Dịch Số.
Sử dụng số chi năm, số tháng, số ngày (âm lịch) để xác định thượng quái; dùng số chi năm, số tháng, số ngày, số chi giờ (âm lịch) để xác định hạ quái và hào động.
Dựa vào số can năm, số của tháng, số của ngày và số chi giờ sinh (theo âm lịch) để lập quẻ và xem xét mệnh vận của cuộc đời; hoặc dựa vào số can năm, số của tháng, số của ngày, số chi giờ để lập quẻ và dự đoán các sự việc, hiện tượng.
Dùng số lượng vật để xem
Để bốc quẻ, quan sát vật nào xuất hiện, đếm số thăm bốc được và trừ đi một hoặc nhiều lần 8 để lấy số dư làm Thượng quái. Sau đó, cộng số thăm bốc được lần trước với số giờ, rồi trừ đi một hoặc nhiều lần 8 để lấy số dư làm Hạ quái. Cuối cùng, tổng số trừ đi một hoặc nhiều lần 6, số dư sẽ làm hào động.
Dựa vào âm thanh nghe được để xem
Nghe các loại âm thanh như tiếng nói, tiếng chim hót, tiếng động vật kêu, tiếng đánh, tiếng gõ, v.v... đều có thể dùng để toán quẻ. Đếm số lượng âm thanh nghe được và làm theo cách trên. Cộng số âm thanh nghe được với số giờ lúc nghe để xác định giờ trong 12 chi giờ. Nếu vượt quá 8, trừ đi 8 để lấy số dư làm Hạ quái. Dùng số âm thanh và số giờ trừ đi một hoặc nhiều lần 6, số dư từ 6 đến 1 sẽ làm Hào động.
Đọc từ
Khi toán quẻ dựa vào số từ, nếu số lượng các từ đều nhau, chia đều làm Thượng quái và Hạ quái. Nếu số từ không đều, lấy số từ ít hơn một làm Thượng quái gọi là Thiên khinh thanh và số từ nhiều hơn một làm Hạ quái, gọi là Địa trọng trọc.
Phân tích một từ
Phương pháp bói Mai Hoa Dịch số áp dụng để xem chữ Hán, một dạng chữ viết tượng hình, trong đó mỗi chữ (từ) có thể bao gồm một hoặc nhiều nét. Phương pháp này cũng có thể áp dụng cho chữ viết Latinh, trong đó mỗi từ gồm một hoặc nhiều chữ cái. Khi lập quẻ Mai Hoa, một nét trong từ chữ Hán tương đương với một chữ cái trong từ chữ cái Latinh.
Một từ trong phương pháp Thái cực vị phân nghĩa là giai đoạn trời đất chưa phân chia. Nếu chữ viết quá phức tạp và khó đếm nét, thì không thể xem được. Nếu từ viết rõ ràng, bộ phận bên trái coi là dương và bộ phận bên phải là âm; đếm số nét hoặc chữ cái trong từng bộ phận để xác định Thượng quái và Hạ quái. Sau đó, lấy tổng số nét hoặc chữ cái cả hai bộ phận để tìm hào động.
Xem hai từ
Hai từ được gọi là Lưỡng nghi, phân chia số nét hoặc chữ cái của từ đầu thành Thượng quái và số nét hoặc chữ cái của từ thứ hai thành Hạ quái.
Xem ba từ
Ba từ gọi là Tam tài, trong đó một từ được xem là Thượng quái và hai từ còn lại là Hạ quái (dựa vào số nét hoặc chữ cái).
Xem bốn từ
Bốn từ được gọi là Tứ tượng, phân chia thành hai quái Thượng và Hạ. Đối với số lượng từ nhiều hơn bốn, không cần đếm số nét hay chữ cái mà chỉ dựa vào thanh âm bằng hoặc trắc để phân tích.
- Thanh bằng tính là 1
- Thanh sắc tính là 2
- Thanh hỏi tính là 3
- Thanh ngã tính là 4
(Trong tiếng Trung có bốn thanh chính là Bình, Thượng, Khứ, Nhập tương tự như các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng trong tiếng Việt).
Xem năm từ
Năm từ được gọi là Ngũ hành, trong đó hai từ đầu được xem là Thượng quái và ba từ còn lại là Hạ quái (còn gọi là Thiên khinh thanh và Địa trọng trọc).
Xem sáu từ
Sáu từ được gọi là Lục hào, phân chia thành Thượng quái và Hạ quái một cách đều đặn.
Xem bảy từ
Bảy từ được gọi là Thất chánh, trong đó ba từ đầu làm Thượng quái và bốn từ còn lại làm Hạ quái.
Xem tám từ
Tám từ được gọi là Bát quái, phân chia đồng đều thành Thượng quái và Hạ quái.
Xem chín từ
Chín từ được gọi là Cửu trù, trong đó bốn từ đầu là Thượng quái và năm từ còn lại là Hạ quái.
Xem mười từ
Mười từ được gọi là Thành quái, phân chia đều thành Thượng quái và Hạ quái.
Xem từ mười một từ trở lên
Khi có từ 11 đến 100 từ, vẫn có thể xem quẻ, nhưng từ 11 trở lên không dựa vào thanh âm bằng trắc nữa. Thay vào đó, đếm số từ: nếu số từ chẵn, chia đều thành Thượng quái và Hạ quái; nếu số từ lẻ, chia thành một nửa non làm Thượng quái và nửa còn lại làm Hạ quái, sau đó tổng hợp số từ của từng phần để xác định hào động.
Xem bằng trượng thước
Trượng tương đương với 10 thước, xích là một thước.
Khi sử dụng vật dài tính bằng trượng và thước để xem, lấy số trượng làm Thượng quái và số thước làm Hạ quái. Cộng tổng số trượng với số thước rồi thêm giờ để tìm hào động (không tính số tấc).
Xem bằng thước tấc
Đối với vật dài dưới một trượng, dùng số thước để xác định Thượng quái và số tấc để xác định Hạ quái. Cộng số thước và số tấc, rồi thêm số giờ để tìm hào động (không tính phân).
Xem cho người
Khi xem cho người, có thể áp dụng các phương pháp sau:
- Nghe tiếng nói của người đó
- Đánh giá phẩm hạnh của người đó
- Xem sự cử động của cơ thể người đó
- Xem vật dụng của người đó
- Xem trang phục của người đó
- Cảm nhận phản ứng với các yếu tố bên ngoài
- Sử dụng thông tin về năm, tháng, ngày, giờ
- Xem ý nghĩa của những gì người đó viết ra
Nghe tiếng nói để xem
- Nếu người đó nói một câu, áp dụng cách xem từ như trên, phân tích theo số lượng từ
- Nếu có hai câu, dùng từ trong câu đầu để làm Thượng quái và từ trong câu sau để làm Hạ quái
- Nếu có nhiều câu, chỉ sử dụng từ trong câu đầu hoặc câu cuối, không tính các câu ở giữa
Xem phẩm hạnh của người
Xem xét người cầu là nam hay nữ để xác định quẻ: ví dụ, đàn ông thì dùng Càn, thiếu nữ thì dùng Đoài, v.v.
Xem sự cử động của cơ thể
Nếu người cầu động đầu, dùng quẻ Càn; động chân, dùng quẻ Chấn; nếu thấy sự chuyển động của mắt (như nháy mắt), dùng quẻ Ly để xem.
Xem vật dụng của người cầu
Khi thấy người cầu cầm vật gì, nếu là vàng, ngọc hoặc vật tròn thì thuộc quẻ Càn; nếu là đất, sành, gạch, ngói, hoặc vật hình vuông thì thuộc quẻ Khôn. Dựa vào từng loại vật để xác định quẻ.
Xem trang phục
Khi xem trang phục của người cầu, nếu họ mặc áo màu xanh thì thuộc quẻ Chấn; nếu mặc áo màu đỏ thì thuộc quẻ Ly.
Cảm xúc với các yếu tố bên ngoài
Khi thực hiện toán quẻ, nếu gặp nước thì dùng quẻ Khảm, nếu gặp lửa thì dùng quẻ Ly để phân tích.
Dựa vào năm, tháng, ngày, giờ
Có thể lập quẻ dựa vào năm, tháng, ngày, giờ khi người xin xem để đoán sự lành dữ, hoặc căn cứ vào năm, tháng, ngày, giờ sinh để dự đoán mệnh vận của người đó. Quy trình lập quẻ như đã mô tả ở trên.
Xem chữ viết
Người đến xem cho chính mình có thể sử dụng:
- Năm, tháng, ngày, giờ
- Âm thanh nghe được tại thời điểm đó
- Cảm xúc với các yếu tố bên ngoài. Cả ba yếu tố này đều có thể được dùng để toán quẻ, giống như cách xem theo nhân thể đã nêu trước đó.
Xem động vật
Nếu thấy động vật lộn xộn và không theo quy tắc, không thể xem quẻ. Nếu chỉ thấy một con vật cụ thể, hãy tra cứu trong bảng 'Bát quái thuộc vạn vật loại' để xác định quẻ của con vật đó. Dùng quẻ đó làm Thượng quái và phương vị từ đâu con vật đến làm Hạ quái. Cộng số quẻ và số phương hướng, thêm số giờ để xác định hào động. Đối với các loại động vật như bò, ngựa, chó, lợn, hãy dùng năm, tháng, ngày, giờ sinh của chúng; nếu là con vật mới mua, hãy dùng năm, tháng, ngày, giờ khi mua để xem.
Xem tĩnh vật
Không thể toán quẻ đối với tĩnh vật như sông, suối, núi, đá. Đối với nhà cửa, cây cối các loại, có thể áp dụng như sau:
- Nhà: dùng năm, tháng, ngày, giờ xây dựng hoặc mua lại để xem
- Cây: dùng năm, tháng, ngày, giờ trồng cây để xem
- Đối với khí cụ, đồ dùng, lấy năm, tháng, ngày, giờ chế tạo hoặc mua để xem, tương tự như cách làm cho gối, ghế (như đã nói ở phần Lời Tựa). Các trường hợp không có lý do cụ thể thì không xem, ví dụ như xem 'Quan Mai' vì có lý do là hai con chim đậu trên cành mai phải rơi xuống đất.
Xem hoa 'Mẫu đơn' chỉ khi có lý do, như cây đang tươi tốt nhưng có cành khô gãy xuống đất. Nếu không có lý do cụ thể mà vẫn xem thì không hiệu quả.
Gieo quẻ Hậu Thiên, dựa vào vật để lập quẻ
Khi gieo quẻ Hậu Thiên, quan sát vật một cách kỹ lưỡng, sử dụng tượng quẻ của vật làm Thượng quái và phương vị của vật làm Hạ quái, cộng thêm số giờ để tìm hào động.
Cách đoán quẻ
Thiết lập quẻ
Sau khi lập quẻ, quẻ đó trở thành quẻ gốc (bản quái, chủ quái). Quẻ gốc được hình thành từ quẻ trên (thượng quái) và quẻ dưới (hạ quái). Dùng hào thứ hai, thứ ba và thứ tư (theo thứ tự từ trên xuống và từ dưới lên) để tạo thành 'quẻ hỗ' (hỗ trợ).
Phân tích lời hào (Hào từ) và lời quẻ (thoán từ, quái từ) của Chu Dịch để dự đoán cát hung
Ví dụ: khi chiêm được quẻ Càn, lời hào sơ cửu 'Tiềm long vật dụng' (rồng ẩn mình), có thể dự đoán rằng mọi việc vẫn còn ẩn giấu (chưa rõ ràng), nên cần chờ đợi thời cơ thích hợp để hành động.
Khi chiêm được quẻ Càn, nếu hào Cửu nhị xuất hiện với lời 'Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân' (rồng hiện ở ruộng, nên gặp quý nhân), điều này cho thấy nên tìm gặp và nhờ cậy quý nhân.
Phân tích Thể Dụng của quẻ để luận Ngũ Hành sinh khắc
Quẻ trên (thượng quái) và quẻ dưới (hạ quái) đại diện cho quẻ thể và quẻ dụng. Quẻ thể là phần cốt lõi, quẻ dụng phản ánh sự vận hành và quản lý. Quẻ thể thường liên quan đến bản chất, còn quẻ dụng liên quan đến ứng dụng và ảnh hưởng.
Thể Dụng theo lý thuyết Động và Tĩnh
- Thể là phần chủ yếu, Dụng là sự ứng dụng và tác động của phần chủ yếu
- Thể Dụng hòa hợp (tương đồng, cân bằng) là điều tốt
- Thể sinh Dụng hoặc Dụng khắc Thể là điều không thuận lợi
Đánh giá theo khắc ứng, giống như bói dịch truyền thống
- Nghe tin vui, hoặc thấy dấu hiệu tốt lành thì báo hiệu sự thành công
- Nghe tin xấu, hoặc thấy dấu hiệu không tốt thì báo hiệu sự thất bại
- Thấy vật hình tròn và nguyên vẹn thường biểu thị sự thành công
- Thấy vật bị vỡ hoặc hư hỏng thường biểu thị sự thất bại
Xác định thời gian ứng nghiệm
Xem xét động tĩnh của bản thân như sau:
- Quẻ được bóc khi ngồi: dự đoán sự chậm trễ
- Quẻ được bóc khi đang di chuyển: dự đoán sự nhanh chóng
- Quẻ được bóc khi đang chạy: dự đoán sự cực kỳ nhanh chóng
- Quẻ được bóc khi nằm: dự đoán sự chậm hơn
Để hiểu rõ về việc chiêm bốc, trước tiên cần lấy Dịch quái làm cơ sở, tiếp theo là xem khắc ứng:
- Nếu cả hai đều tốt thì càng thêm tốt
- Nếu cả hai đều xấu thì càng xấu thêm
Khi luận quẻ Mai Hoa, cần phải kết hợp cả hai yếu tố số và lý, tránh thiên lệch một phía, điều này giúp đạt được sự chính xác cao hơn. Nên áp dụng nguyên tắc biến thông một cách phù hợp.
- Kinh Dịch
- Mai Hoa Dịch số, Thiệu Khang Tiết, dịch giả: Văn Tùng, Nhà xuất bản Văn Hoá Thông tin, Hà Nội, 2002
- Mai Hoa Dịch tân biên, Vưu Sùng Hoa, dịch giả: Cao Hoàn Diên Khánh, Nhà xuất bản Văn Hoá Thông tin, Hà Nội, 1997
- Chu Dịch với dự đoán học, Thiệu Vĩ Hoa, dịch giả: Mạnh Hà, Nhà xuất bản Văn Hoá, Hà Nội, 1997
