
|
Mkhitaryan trong một buổi họp báo với Manchester United vào năm 2017 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Henrikh Mkhitaryan | ||
| Ngày sinh | 21 tháng 1, 1989 (35 tuổi) | ||
| Nơi sinh |
Yerevan, Armenia, Liên Xô | ||
| Chiều cao | 1,78 m (5 ft 10 in) | ||
| Vị trí | Tiền vệ tấn công | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Inter Milan | ||
| Số áo | 22 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 1995–2006 | Pyunik | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2006–2009 | Pyunik | 70 | (30) |
| 2009–2010 | Metalurh Donetsk | 37 | (12) |
| 2010–2013 | Shakhtar Donetsk | 72 | (38) |
| 2013–2016 | Borussia Dortmund | 90 | (23) |
| 2016–2018 | Manchester United | 39 | (17) |
| 2018–2020 | Arsenal | 39 | (8) |
| 2019–2020 | → Roma (mượn) | 22 | (9) |
| 2020–2022 | Roma | 59 | (16) |
| 2022– | Inter Milan | 60 | (5) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2006–2007 | U-17 Armenia | 5 | (1) |
| 2007–2008 | U-19 Armenia | 6 | (1) |
| 2008–2010 | U-21 Armenia | 13 | (9) |
| 2007–2022 | Armenia | 95 | (32) |
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 17 tháng 3 năm 2024 | |||
Henrikh Mkhitaryan (tiếng Armenia: Հենրիխ Մխիթարյան, [hɛnˈɾiχ məχitʰɑˈɾjɑn] ; sinh ngày 21 tháng 1 năm 1989) là một cầu thủ bóng đá người Armenia, hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Inter Milan tại Ý. Mkhitaryan là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của đội tuyển Armenia với 32 bàn sau 95 lần ra sân kể từ tháng 1 năm 2007, đồng thời cũng là người đầu tiên ghi hat-trick cho quốc gia mình. Anh khởi nghiệp từ lò đào tạo của câu lạc bộ Pyunik và đã chơi cho các đội như Metalurh Donetsk, Shakhtar Donetsk, Borussia Dortmund, Manchester United và Arsenal.
Năm 2012, Mkhitaryan được UEFA xếp vào danh sách 100 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu cho mùa giải 2012–13, và anh đã lặp lại thành tích này vào năm 2013. Anh được người hâm mộ Armenia gọi là 'Heno' và được biết đến với biệt danh Micki từ người hâm mộ Borussia Dortmund.
Thời niên thiếu
Mkhitaryan sinh ngày 21 tháng 1 năm 1989 tại Yerevan, thủ đô của Armenia, là con thứ hai của bà Marina Taschyan và ông Hamlet Mkhitaryan. Cha anh từng là tiền đạo cho đội tuyển Armenia và câu lạc bộ ASOA Valence ở giải hạng Hai Pháp, đã có 2 lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhưng sự nghiệp bị gián đoạn do bệnh tật. Gia đình anh quay về Armenia năm 1995 và cha anh qua đời một năm sau đó. Chị gái Monika của Henrikh hiện làm việc tại UEFA và mẹ anh, Marina Taschyan, là Giám đốc tại Liên đoàn bóng đá Armenia. Khi còn nhỏ, anh học tiếng Pháp, rồi tiếng Anh để theo đuổi bóng đá, có thể nói tiếng Bồ Đào Nha sau thời gian ở Brazil lúc 14 tuổi và cũng giao tiếp được tiếng Nga với bà. Tiếng mẹ đẻ là tiếng Armenia, anh học thêm tiếng Đức khi ở Dortmund. Theo lời mẹ, Henrikh là người rất chăm chỉ và tận tâm.
Vào đầu những năm 1990, Mkhitaryan cùng gia đình chuyển đến Pháp và sinh sống tại Valence. Từ nhỏ, anh đã mơ ước trở thành cầu thủ bóng đá và quyết tâm theo đuổi sự nghiệp của cha mình. Anh thường xuyên xem cha thi đấu và luôn muốn theo cha đến nơi tập luyện. Năm 1995, Mkhitaryan trở lại Yerevan và gia nhập đội trẻ của Pyunik F.C. Anh bị ấn tượng mạnh với cựu siêu sao Zidane khi chứng kiến màn trình diễn của Zidane tại World Cup 1998 tổ chức ở Pháp.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Pyunik
Năm 1995, Mkhitaryan gia nhập lò đào tạo FC Pyunik và nhận mức lương đầu tiên khi mới 15 tuổi. Anh được đôn lên đội một vào năm 2006, ra mắt chuyên nghiệp ở tuổi 17. Anh chơi cho Pyunik đến mùa giải 2009, ghi 11 bàn sau 10 trận trong mùa giải này. Trong bốn mùa giải tại đội hình một của Pyunik, đội vô địch Armenian Premier League bốn lần (2006, 2007, 2008 và 2009), Armenian Supercup hai lần (2007 và 2009) và Armenian Cup một lần (2009). Anh tổng cộng thi đấu 70 trận cho câu lạc bộ, ghi 30 bàn và 89 lần ra sân với 35 bàn thắng. Huấn luyện viên trưởng Vardan Minasyan của Pyunik và đội tuyển Armenia nhận xét rằng Mkhitaryan có thể thành công ở những giải đấu lớn hơn. Ông đánh giá cao khả năng của Mkhitaryan trong việc quyết định trận đấu và ghi bàn ở những thời điểm quan trọng.
Nhờ thành công rực rỡ ở mùa giải 2009 Armenian Premier League với Pyunik, Mkhitaryan đã chuyển đến câu lạc bộ Metalurh Donetsk ở Ukrainian Premier League.
Metalurh Donetsk
Mkhitaryan gia nhập Metalurh Donetsk và ghi bàn ngay trong trận ra mắt, giúp đội chiến thắng 3–0 trước FC Partizan Minsk tại Europa League vào ngày 16 tháng 7 năm 2009. Ngày 19 tháng 7, anh có trận đầu tiên ở giải Ukrainian Premier League với trận hòa 0–0 trước Dnipro Dnipropetrovsk. Bàn thắng đầu tiên của anh tại giải đấu là trong trận hòa 2–2 với Karpaty Lviv vào ngày 26 tháng 7. Ngày 6 tháng 8, anh mở tỷ số trong chiến thắng 3–0 ở lượt về Europa League trước Interblock Ljubljana, nâng tổng tỷ số lên 5–0. Anh kết thúc mùa giải với 14 bàn thắng sau 38 lần ra sân, bao gồm 29 trận tại giải đấu và 9 bàn thắng.
Mùa giải tiếp theo, vào ngày 14 tháng 7, anh được chỉ định làm đội trưởng của Metalurh Donetsk ở tuổi 21, trở thành đội trưởng trẻ nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Anh ghi bàn thắng đầu tiên của mình bằng quả penalty ở phút 89 trong chiến thắng 3–0 trước Obolon Kyiv vào ngày 16 tháng 7. Trận đấu cuối cùng của anh với câu lạc bộ là chiến thắng 2–1 trước Dnipro vào ngày 30 tháng 8. Trong mùa giải thứ hai, anh thi đấu 8 trận và ghi 3 bàn thắng, tất cả đều tại giải quốc nội. Tổng cộng, anh có 37 trận đấu tại giải, ghi 12 bàn thắng và 46 trận cho câu lạc bộ, với 17 bàn thắng.
Shakhtar Donetsk
Mùa giải 2010–11

Vào ngày 30 tháng 8, anh ký hợp đồng chuyển nhượng trị giá 7,5 triệu đô la với đội bóng đương kim vô địch Giải bóng đá Ukraina, Shakhtar Donetsk. Trận ra mắt của anh diễn ra vào ngày 10 tháng 9, giúp đội giành chiến thắng 1–0 trước Obolon Kyiv, trước khi được thay thế ở phút 62 bởi Eduardo. Trận đấu đầu tiên trên sân nhà của anh thành công hơn, với chiến thắng 4–1 trước Tavriya Simferopol vào ngày 19 tháng 9, trong đó anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ. Ba ngày sau, anh ra sân lần đầu tại Cúp bóng đá Ukraina 2010–11 và ghi bàn trong chiến thắng 6–0 trước Kryvbas. Ngày 25 tháng 9, anh ghi bàn thắng muộn trong chiến thắng 2–1 trước Metalist Kharkiv. Anh có trận ra mắt tại Champions League vào ngày 28 tháng 9, với chiến thắng 3–0 trước Sporting Braga. Anh cũng góp mặt trong trận chung kết Cúp bóng đá Ukraina, giúp đội giành chiến thắng 2–0 trước Dynamo Kyiv, vào sân từ phút 81 thay cho Jádson. Mùa giải đầu tiên của anh với Shakhtar rất thành công khi đội giành cú ăn ba (Giải bóng đá vô địch quốc gia Ukraina, Cúp bóng đá Ukraina và Siêu cúp bóng đá Ukraina).
Mùa giải 2011–12
Ở mùa giải 2011–12, Shakhtar Donetsk giành chiến thắng tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Ukraina và Cúp bóng đá Ukraina. Mkhitaryan ghi bàn thứ ba trong chiến thắng 4–0 trước Obolon Kyiv trong trận đấu mở màn của mùa giải. Vào ngày 4 tháng 3, anh ghi bàn gỡ hòa trong trận 1–1 với Dnipro Dnipropetrovsk. Anh cũng ghi bàn duy nhất trong chiến thắng trước Metalurh Zaporizhya tại cúp vào ngày 11 tháng 4. Ngày 6 tháng 5, anh góp công vào chiến thắng 2–1 trước Metalurh Donetsk trong trận chung kết Cúp bóng đá Ukraina, rời sân sau phút 62 và được thay bằng Douglas Costa. Mkhitaryan được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất của Shakhtar mùa giải 2011–12 với khoảng 38% tổng số phiếu. Anh ghi 11 bàn trong 36 trận, trong đó có 10 bàn trong 28 trận tại giải quốc nội. Shakhtar bảo vệ thành công chức vô địch Premier League và Cúp bóng đá Ukraina mùa giải 2011–12.
Mùa giải 2012–13
—Mircea Lucescu, huấn luyện viên của Mkhitaryan tại Shakhtar Donetsk vào tháng 6 năm 2013.
Mkhitaryan thi đấu trong chiến thắng 2–0 tại Siêu cúp 2012 trước Metalurh Donetsk. Trong trận mở màn của mùa giải Premier League 2012–13, anh ghi hai bàn và có hai pha kiến tạo trong chiến thắng 6–0 trước Arsenal Kyiv. Anh lập hat-trick trước Chornomorets Odesa trong chiến thắng 5–1, đạt 10 bàn thắng sau sáu trận, bằng thành tích của mùa giải trước. Ngày 19 tháng 9, trong trận đầu tiên của Shakhtar tại Champions League mùa này, Mkhitaryan ghi hai bàn trong chiến thắng 2–0 trước nhà vô địch Đan Mạch Nordsjælland. Đây là lần đầu anh ghi bàn tại Champions League và được chọn là cầu thủ của trận đấu. Anh cũng có tên trong đội hình tiêu biểu của tuần cho vòng đấu đầu tiên của Champions League sau cú đúp của anh trước Nordsjælland. Ngày 16 tháng 3 năm 2013, Mkhitaryan có trận đấu thứ 100 tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Ukraina trong trận đấu với Chornomorets Odesa.
Vào ngày 11 tháng 5 năm 2013, Mkhitaryan ghi bàn thứ 23 và 24 tại giải vô địch quốc gia trong chiến thắng 5–0 trước Tavria. Những bàn thắng này thiết lập kỷ lục về số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Ukraina. Mkhitaryan kết thúc mùa giải với 25 bàn thắng tại giải, và tiền vệ tấn công này được khen ngợi về kỹ thuật và sự cống hiến của anh.
Borussia Dortmund
Mùa giải 2013–14
Ngày 25 tháng 6, Borussia Dortmund đưa ra đề nghị 25 triệu euro (30 triệu đô la), nhưng CEO Sergei Palkin của Shakhtar Donetsk yêu cầu ít nhất 30 triệu euro (36 triệu đô la). Trong buổi họp báo cùng ngày, Palkin thông báo việc ký hợp đồng với cầu thủ người Brazil Fred từ Sport Club Internacional với mức giá 15 triệu euro (12,5 triệu bảng Anh) như một sự thay thế. Ngày 5 tháng 7, có thông tin cho rằng Borussia Dortmund đã đạt thỏa thuận với Shakhtar và Mkhitaryan chuẩn bị đến Đức để kiểm tra y tế. Ngày 8 tháng 7, Borussia Dortmund công bố việc ký hợp đồng bốn năm với Mkhitaryan trị giá 25 triệu euro (21,5 triệu bảng Anh). Sau đó, Shakhtar và Borussia đã hoàn tất các thủ tục và đồng ý mức giá 27,5 triệu euro (23,6 triệu bảng), biến anh trở thành cầu thủ có giá chuyển nhượng cao nhất trong lịch sử câu lạc bộ.
Trong trận giao hữu trước mùa giải với FC Basel vào ngày 10 tháng 7 năm 2013, Mkhitaryan đã kiến tạo cho Marco Reus ở phút 11 và ghi bàn thắng đầu tiên của mình 16 phút sau đó, giúp đội nhà thắng 3–1 tại St. Jakob-Park. Mkhitaryan không thể tham dự Siêu cúp Đức 2013 vì chấn thương từ trận giao hữu trước đó. Anh trở lại thi đấu cho BVB sau ba tuần dưỡng thương vào ngày 18 tháng 8 năm 2013 trong trận đấu thứ hai của Bundesliga 2013-14, giúp Dortmund thắng Eintracht Braunschweig tại Signal Iduna Park. Hai bàn thắng đầu tiên của Mkhitaryan tại Bundesliga là quyết định trong chiến thắng 2–1 trước Eintracht Frankfurt, giúp Dortmund giữ ngôi đầu bảng. Bàn thắng đầu tiên của anh tại Champions League cho Dortmund đến trong trận thắng 1–2 trên sân khách trước Arsenal.
Mkhitaryan kết thúc mùa giải với chín bàn thắng và mười kiến tạo, và được vinh danh trong đội hình tiêu biểu của Bundesliga mùa giải. Đội bóng của anh kết thúc Bundesliga 2013-14 ở vị trí á quân, và về nhì tại Cúp bóng đá Đức 2013-14.
Mùa giải 2014–15
Mkhitaryan giành danh hiệu đầu tiên với Dortmund là Siêu cúp Đức 2014, ghi bàn thắng mở tỷ số trong chiến thắng 2–0 trước Bayern Munich. Vào tháng 9, anh gặp chấn thương phải nghỉ thi đấu một tháng và đến ngày 13 tháng 12, anh lại dính chấn thương khác. Mkhitaryan ghi bàn thứ hai trong chiến thắng 3–0 trước Schalke 04 trong trận derby vùng Ruhr vào ngày 28 tháng 2.
Mùa giải 2015–16
Ngày 6 tháng 8 năm 2015, Dortmund thi đấu với Wolfsberger AC ở vòng loại thứ ba lượt về Europa League, là trận đấu sân nhà đầu tiên của Thomas Tuchel trên cương vị huấn luyện viên trưởng. Mkhitaryan ghi ba bàn trong chiến thắng 5–0, tổng tỷ số hai lượt trận là 6–0. Ba ngày sau, anh ghi bàn thắng thứ hai trong trận thắng 2–0 trước Chemnitzer FC ở vòng đầu tiên của Cúp bóng đá Đức 2015–16. Ngày 15 tháng 8, Mkhitaryan lập cú đúp trong chiến thắng 4–0 trước Borussia Mönchengladbach trong trận mở màn mùa giải. Năm ngày sau, anh ghi bàn bằng cú đánh đầu trong trận thắng ngược 4–3 trước Odds BK ở vòng play-off đầu tiên của Europa League.
Ngày 28 tháng 10, Mkhitaryan ghi bàn thắng cuối cùng trong chiến thắng 7–1 trước SC Paderborn 07 ở vòng hai cúp quốc nội. Tám ngày sau, anh ấn định chiến thắng 4–0 trước Gabala FK trên sân nhà, đảm bảo một suất vào vòng knockout UEFA Europa League 2015-16.
Ngày 20 tháng 4 năm 2016, Mkhitaryan là một trong ba cầu thủ ghi bàn giúp Borussia Dortmund thắng 3–0 trước Hertha BSC trong trận bán kết Cúp bóng đá Đức.
Cuối mùa giải, Mkhitaryan được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất Bundesliga. Anh kết thúc mùa giải dẫn đầu về số pha kiến tạo với 15 lần.
Manchester United
Ngày 2 tháng 7 năm 2016, Giám đốc điều hành Dortmund Hans-Joachim Watzke xác nhận việc bán Mkhitaryan cho Manchester United để tránh rủi ro mất trắng nếu anh ở lại thêm một mùa nữa. Bốn ngày sau, Mkhitaryan ký hợp đồng 4 năm với Manchester United, kèm theo điều khoản tự động gia hạn thêm một năm. Anh trở thành cầu thủ Armenia đầu tiên thi đấu tại Premier League.
Mkhitaryan có trận ra mắt đầu tiên trong chiến thắng 2–0 trước Wigan Athletic vào ngày 15 tháng 7 năm 2016. Ngày 22 tháng 7 năm 2016, anh ghi một bàn trong trận thua 1-4 của Manchester United trước Borussia Dortmund tại International Champions Cup 2016.
Arsenal F.C
Ngày 23 tháng 1 năm 2018, Henrikh Mkhitaryan chính thức gia nhập Arsenal F.C sau thương vụ trao đổi cầu thủ nổi bật với việc là một phần trong hợp đồng mua Alexis Sanchez từ Manchester United.
Sự nghiệp quốc tế
Henrikh Mkhitaryan có trận ra mắt Đội tuyển quốc gia Armenia trong trận giao hữu gặp Panama vào ngày 14 tháng 1 năm 2007, không lâu trước sinh nhật lần thứ 18 của anh.
Anh đã ghi 6 bàn trong vòng loại Euro 2012, trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất trong bảng đó.
Ngày 10 tháng 9 năm 2013, khi thủ môn và đội trưởng Roman Berezovsky vắng mặt, Mkhitaryan lần đầu tiên được chọn làm đội trưởng trong trận thua 0-1 trước Đan Mạch ở vòng loại World Cup 2014. Anh trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu của đội tuyển Armenia với bàn thắng thứ 12 trong trận thua 1-3 trước Ý vào ngày 15 tháng 10, vượt qua kỷ lục 11 bàn của Artur Petrosyan.
Ngày 27 tháng 5 năm 2014, anh ghi hai bàn trong trận giao hữu giúp đội tuyển thắng 4-3 trước UAE tại sân Fontenette ở Carouge, Thụy Sĩ. Hai năm và một ngày sau, anh lập hat-trick đầu tiên cho đội tuyển Armenia trong chiến thắng 7-1 trước Guatemala tại Los Angeles, Hoa Kỳ.
Từ đó, Mkhitaryan đã thiết lập nhiều kỷ lục, bao gồm cầu thủ ghi nhiều bàn nhất trong lịch sử Đội tuyển quốc gia Armenia với 32 bàn sau 95 trận và là người đầu tiên lập hat-trick cho đội tuyển.
Ngày 1 tháng 3 năm 2022, Henrikh Mkhitaryan chính thức chia tay đội tuyển quốc gia sau 15 năm gắn bó, với tổng cộng 95 trận đấu và 32 bàn thắng.
Phong cách thi đấu
Mkhitaryan mô tả phong cách chơi của anh như sau:
'Tôi coi bóng đá như một trò chơi cờ vua. Bạn phải suy nghĩ và phân tích rất kỹ. Hãy dự đoán động thái của đối thủ trước khi ra quyết định. Nếu bạn dự đoán sai, đối phương sẽ trừng phạt bạn và bạn sẽ phải chịu thất bại.'
Mkhitaryan là cầu thủ sở hữu trí tuệ trên sân, với khả năng quan sát xuất sắc, sút bóng tốt bằng cả hai chân và có tốc độ nhanh.
Cuộc sống riêng tư
Cha của Mkhitaryan, ông Hamlet Mkhitaryan, từng là một ngôi sao của FC Ararat Yereven vào những năm 1980. Đáng tiếc, ông đã qua đời ở tuổi 33 do một căn bệnh u não. Sự ra đi của cha đã để lại ảnh hưởng sâu sắc lên Mkhitaryan. Mẹ anh, bà Marina Taschyan, hiện đang giữ chức trưởng phòng các Đội tuyển quốc gia tại Liên đoàn bóng đá Armenia, trong khi chị gái Monika Mkhitaryan làm việc tại trụ sở UEFA.
Ngoài việc là một cầu thủ tài năng, Mkhitaryan còn được biết đến là một trí thức đa tài. Anh thông thạo 6 ngôn ngữ: Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Nga và Ý. Anh cho biết, nếu không theo nghiệp bóng đá, anh sẽ chọn con đường viết lách. Bên cạnh đó, anh đã có bằng Đại học ngành Thể dục thể thao, đang học thêm Kinh tế bán thời gian tại St Petersburg và có dự định trở thành luật sư khi kết thúc sự nghiệp thi đấu.
Nếu không phải là cầu thủ bóng đá, Mkhitaryan cho rằng anh sẽ theo đuổi sự nghiệp chạy nước rút.
Ngày 28 tháng 5 năm 2017, Mkhitaryan được Tổng thống Armenia trao tặng huân chương hạng nhất vì những đóng góp to lớn trong lĩnh vực thể thao.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Đến ngày 8 tháng 11 năm 2020
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Vô địch quốc gia | Cúp quốc gia | Cúp liên đoàn | Cúp châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Số bàn | Số trận | Số bàn | Số trận | Số bàn | Số trận | Số bàn | Số trận | Số bàn | Số trận | Số bàn | ||
| Pyunik | 2006 | Armenian Premier League | 12 | 1 | 0 | 0 | — | — | — | 12 | 1 | |||
| 2007 | Armenian Premier League | 24 | 12 | 0 | 0 | — | 4 | 0 | — | 28 | 12 | |||
| 2008 | Armenian Premier League | 24 | 6 | 5 | 3 | — | 2 | 0 | — | 31 | 9 | |||
| 2009 | Armenian Premier League | 10 | 11 | 6 | 2 | — | — | — | 16 | 13 | ||||
| Tổng cộng | 70 | 30 | 11 | 5 | — | 6 | 0 | — | 87 | 35 | ||||
| Metalurh Donetsk | 2009–10 | Ukrainian Premier League | 29 | 9 | 2 | 0 | — | 6 | 4 | — | 37 | 13 | ||
| 2010–11 | Ukrainian Premier League | 8 | 3 | 0 | 0 | — | — | — | 8 | 3 | ||||
| Tổng cộng | 37 | 12 | 2 | 0 | — | 6 | 4 | — | 45 | 16 | ||||
| Shakhtar Donetsk | 2010–11 | Ukrainian Premier League | 17 | 3 | 3 | 1 | — | 7 | 0 | — | 27 | 4 | ||
| 2011–12 | Ukrainian Premier League | 26 | 10 | 4 | 1 | — | 6 | 0 | 1 | 0 | 37 | 11 | ||
| 2012–13 | Ukrainian Premier League | 29 | 25 | 4 | 2 | — | 8 | 2 | 1 | 0 | 42 | 29 | ||
| Tổng cộng | 72 | 38 | 11 | 4 | — | 21 | 2 | 2 | 0 | 106 | 44 | |||
| Borussia Dortmund | 2013–14 | Bundesliga | 31 | 9 | 5 | 2 | — | 10 | 2 | 0 | 0 | 46 | 13 | |
| 2014–15 | Bundesliga | 28 | 3 | 6 | 1 | — | 7 | 0 | 1 | 1 | 42 | 5 | ||
| 2015–16 | Bundesliga | 31 | 11 | 6 | 5 | — | 15 | 7 | — | 52 | 23 | |||
| Tổng cộng | 90 | 23 | 17 | 8 | — | 32 | 9 | 1 | 1 | 140 | 41 | |||
| Manchester United | 2016–17 | Premier League | 24 | 4 | 3 | 1 | 2 | 0 | 11 | 6 | 1 | 0 | 41 | 11 |
| 2017–18 | Premier League | 15 | 1 | 1 | 0 | 1 | 0 | 4 | 1 | 1 | 0 | 22 | 2 | |
| Tổng cộng | 39 | 5 | 4 | 1 | 3 | 0 | 15 | 7 | 2 | 0 | 63 | 13 | ||
| Arsenal | 2017–18 | Premier League | 11 | 2 | — | — | 6 | 1 | — | 17 | 3 | |||
| 2018–19 | Premier League | 25 | 6 | 0 | 0 | 3 | 0 | 10 | 0 | — | 38 | 6 | ||
| 2019–20 | Premier League | 3 | 0 | — | — | — | — | 3 | 0 | |||||
| Tổng cộng | 39 | 8 | 0 | 0 | 3 | 0 | 16 | 1 | — | 58 | 9 | |||
| Roma (loan) | 2019–20 | Serie A | 22 | 9 | 0 | 0 | — | 5 | 0 | — | 27 | 9 | ||
| Roma | 2020–21 | Serie A | 7 | 3 | 0 | 0 | — | 3 | 1 | — | 10 | 4 | ||
| Tổng cộng | 29 | 12 | 0 | 0 | — | 8 | 1 | — | 37 | 13 | ||||
| Tổng cộng sự nghiệp | 373 | 128 | 45 | 19 | 6 | 0 | 104 | 24 | 5 | 1 | 536 | 172 | ||
Thi đấu quốc tế
- Đến các trận đấu ngày 14 tháng 11 năm 2021.
| Armenia | ||
|---|---|---|
| Năm | Số trận | Số bàn thắng |
| 2007 | 2 | 0 |
| 2008 | 5 | 0 |
| 2009 | 7 | 1 |
| 2010 | 5 | 3 |
| 2011 | 8 | 4 |
| 2012 | 8 | 2 |
| 2013 | 8 | 2 |
| 2014 | 7 | 4 |
| 2015 | 6 | 0 |
| 2016 | 5 | 3 |
| 2017 | 9 | 6 |
| 2018 | 10 | 1 |
| 2019 | 5 | 3 |
| 2020 | 2 | 1 |
| 2021 | 7 | 2 |
| Tổng cộng | 95 | 32 |
Bàn thắng quốc tế
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 28 tháng 3 năm 2009 | Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia | Estonia | 1–0 | 2–2 | Vòng loại World Cup 2010 |
| 2. | 25 tháng 5 năm 2010 | Uzbekistan | 1–0 | 3–1 | Giao hữu | |
| 3. | 8 tháng 10 năm 2010 | Slovakia | 3–1 | 3–1 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 4. | 12 tháng 10 năm 2010 | Andorra | 2–0 | 5–0 | ||
| 5. | 2 tháng 9 năm 2011 | Sân vận động Comunal d'Andorra la Vella, Andorra la Vella, Andorra | Andorra | 3–0 | 3–0 | |
| 6. | 6 tháng 9 năm 2011 | Sân vận động Dubňom, Žilina, Slovakia | Slovakia | 2–0 | 4–0 | |
| 7. | 7 tháng 10 năm 2011 | Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia | Macedonia | 3–1 | 4–1 | |
| 8. | 11 tháng 10 năm 2011 | Sân vận động Aviva, Dublin, Ireland | Cộng hòa Ireland | 1–2 | 1–2 | |
| 9. | 12 tháng 10 năm 2012 | Sân vận động Hrazdan, Yerevan, Armenia | Ý | 1–1 | 1–3 | Vòng loại World Cup 2014 |
| 10. | 14 tháng 11 năm 2012 | Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia | Litva | 3–0 | 4–2 | Giao hữu |
| 11. | 11 tháng 6 năm 2013 | Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch | Đan Mạch | 4–0 | 4–0 | Vòng loại World Cup 2014 |
| 12. | 15 tháng 10 năm 2013 | Sân vận động San Paolo, Naples, Ý | Ý | 2–1 | 2–2 | |
| 13. | 27 tháng 5 năm 2014 | Sân vận động Fontenette, Carouge, Thụy Sĩ | UAE | 2–1 | 4–3 | Giao hữu |
| 14. | 3–2 | |||||
| 15. | 6 tháng 6 năm 2014 | Coface Arena, Mainz, Đức | Đức | 1–1 | 1–6 | |
| 16. | 7 tháng 9 năm 2014 | Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch | Đan Mạch | 1–0 | 1–2 | Vòng loại Euro 2016 |
| 17. | 29 tháng 5 năm 2016 | StubHub Center, Los Angeles, Hoa Kỳ | Guatemala | 1–1 | 7–1 | Giao hữu |
| 18. | 4–1 | |||||
| 19. | 5–1 | |||||
| 20. | 26 tháng 3 năm 2017 | Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia | Kazakhstan | 1–0 | 2–0 | Vòng loại World Cup 2018 |
| 21. | 4 tháng 6 năm 2017 | Saint Kitts và Nevis | 2–0 | 5–0 | Giao hữu | |
| 22. | 3–0 | |||||
| 23. | 8 tháng 10 năm 2017 | Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch | Đan Mạch | 1–0 | 1–1 | Vòng loại World Cup 2018 |
| 24. | 9 tháng 11 năm 2017 | Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia | Belarus | 2–0 | 4–1 | Giao hữu |
| 25. | 13 tháng 11 năm 2017 | Síp | 3–1 | 3–2 | ||
| 26. | 16 tháng 10 năm 2018 | Bắc Macedonia | 4–0 | 4–0 | UEFA Nations League 2018–19 | |
| 27. | 23 tháng 3 năm 2019 | Sân vận động Grbavica, Sarajevo, Bosna và Hercegovina | Bosna và Hercegovina | 1–2 | 1–2 | Vòng loại Euro 2020 |
| 28. | 8 tháng 9 năm 2019 | Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia | Bosna và Hercegovina | 1–0 | 4–2 | |
| 29. | 2–1 | |||||
| 30. | 11 tháng 10 năm 2020 | Bắc Macedonia | 2–2 | 2–2 | UEFA Nations League 2020–21 | |
| 31. | 8 tháng 9 năm 2021 | Liechtenstein | 1–0 | 1–1 | Vòng loại World Cup 2022 | |
| 32 | 14 tháng 11 năm 2021 | Đức | 1–3 | 1–4 |
Danh hiệu

Câu lạc bộ
Pyunik
- Giải Ngoại hạng Armenia: 2006, 2007, 2008, 2009
- Cúp Armenia: 2009
- Siêu cúp Armenia: 2007, 2008
Shakhtar Donetsk
- Giải Vô địch Quốc gia Ukraina: 2010–11, 2011–12, 2012–13
- Cúp Ukraina: 2010–11, 2011–12, 2012–13
- Siêu cúp Ukraina: 2012
Borussia Dortmund
- DFB-Supercup: 2013, 2014
Manchester United
- Cúp EFL: 2016–17
- FA Community Shield: 2016
- UEFA Europa League: 2016–17
AS Roma
- UEFA Europa Conference League: 2021–22
Inter Milan
- Serie A: 2023–24
- Coppa Italia: 2022–23
- Supercoppa Italiana: 2022, 2023
Danh hiệu cá nhân
- Cầu thủ xuất sắc nhất năm tại Armenia: 2009, 2011, 2012, 2013, 2014
- Vua phá lưới Giải Ngoại hạng Ukraina: 2012–13
- Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất năm của Giải Ngoại hạng Ukraina: 2012
- Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất năm CIS: 2012, 2013
- Cầu thủ xuất sắc nhất tháng Bundesliga: Tháng 4 năm 2016
- Chuyên gia kiến tạo Bundesliga: 2015–16
- Đội hình tiêu biểu của mùa giải Bundesliga: 2015–16
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải Bundesliga: 2015–16
Chú thích
Liên kết bên ngoài
- Henrikh Mkhitaryan tại National-Football-Teams.com
- Henrikh Mkhitaryan tại Soccerway
- Henrikh Mkhitaryan – Thành tích thi đấu FIFA
- Henrikh Mkhitaryan – Thành tích thi đấu UEFA
- Hồ sơ Bundesliga Lưu trữ 2018-07-15 tại Wayback Machine
Arsenal F.C. – đội hình hiện tại | |
|---|---|
|
