
Khi đọc một bài ký của thi sĩ Đinh Hùng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, lần đầu tiên tôi nhận ra sự vắng bóng của Nhất Linh. Ông kể lại câu chuyện một tối nọ, nghe tiếng kèn clarinette từ nhà Thạch Lam vang vọng, dạo ấy ở khu Yên Phụ không ai chơi nhạc cụ Tây phương ấy ngoại trừ Nhất Linh vẫn thường ghé nhà Thạch Lam và mang theo cây clarinette của mình. Nhà thơ liền vội vã đến nhà Thạch Lam, nhưng kỳ lạ, khi mới tới nơi thì tiếng kèn lặng im. Ông bước vào nhà, nhưng ngoài Thạch Lam nằm co trên giường với gương mặt tái đi vì cơn ốm, không còn gì khác nữa. Không Nhất Linh. Không clarinette.
“Có lẽ tôi đã nhầm vì một ảo tưởng âm thanh nào đó”, Đinh Hùng viết.
Thế nhưng, sự vắng bóng ấy chỉ qua một cách thoáng qua trong ký ức của Đinh Hùng, như một nốt im lặng giữa bản nhạc ký ức to lớn. Nhưng Nhất Linh vẫn hiện hữu, hiện hữu nồng nhiệt, hiện hữu sống động, hiện hữu say mê, trong những buổi tiệc tùng ẩm, trong những đêm nghe hát cô đầu ở Ngã Tư Sở nơi Nhất Linh trổ tài đánh trống, trong những khoảnh khắc “say suốt từ sáng đến tối, cười đến tận đêm” khi Nhất Linh nhảy xuống hồ Tây mà bơi khi trên người chỉ còn độc chiếc quần xà lỏn.
Phải đến khi đọc Nhất Linh, cha tôi, cuốn hồi ký của Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn/nhà chính trị Nhất Linh/Nguyễn Tường Tam, tôi mới cảm nhận được sự vắng bóng ấy như một giai điệu chủ đề, như bản nhạc 4’33 của John Cage, nơi cái yên lặng chiếm trọn và lan tràn, mặc dù, sự yên lặng của Nhất Linh hư ảo và tinh tế và huyền bí hơn nhiều.
Viết một hồi ký với tựa đề mang tên người cha, nhưng thực ra, chỉ có hai chương đầu người cha thực sự hiện diện rõ ràng. Còn lại, ông là một cái tên thốt ra từ môi một vị đại tá; ông là một đám mây lơ lửng, thoắt ẩn thoắt hiện giữa bầu trời của ký ức; ông là một nắm tro tàn; ông là một di cảo; ông là những dòng mực trong cuốn sách thất lạc; ông là hơi thở trong một buổi chiều ngồi dưới gốc thông; và cũng có khi, ông là một hư cấu, một ảo tưởng của đứa con trai út.
Hình dung về Nhất Linh, một hình dung với rất nhiều khoảng trống, rất nhiều nét vẽ phác hờ chưa hoàn thiện, rất nhiều điểm chưa được làm rõ, rất nhiều mảnh ghép của thời gian, (và, như lời cuối cùng của ông, “đời tôi để lịch sử xử” cũng là một loại khoảng trống, một loại mở ra cuộc đời thay vì kết thúc). Con người tìm kiếm cha trong những khoảnh khắc nhỏ bé nhất và những mối liên kết phân mảnh nhất, giữa thực tại và quá khứ hòa vào làm một - khi những đoạn văn của Bướm trắng, của Giòng sông Thanh Thủy, của bản dịch Đỉnh gió hú cứ vọng lại, cất lên như một bản nhạc cho thời hiện tại, như thể thiên nhiên xưa vẫn tồn tại ở đây, vẫn rực rỡ như lửa cháy của ngày xưa, không bao giờ tắt.
Có khả năng đó là lý do, đồng thời, ở mọi nơi, ta đều cảm nhận được sự hiện diện của Nhất Linh và đồng thời, ta cũng không thể tìm thấy ông. Cảm giác rằng luôn có hai Nhất Linh, một Nhất Linh hiện hữu và một Nhất Linh vắng mặt, hai Nhất Linh ấy liên tục xen kẽ nhau. Thậm chí, trong những khoảnh khắc sâu sắc nhất, vẫn tồn tại một điều gì đó không thể xây dựng lại nơi ông. Như hình ảnh Nhất Linh mặc vest đen thổi sáo clarinet, đứng giữa những cây lan rậm rạp, hình ảnh nghiêng, chú thích ghi: “Nhất Linh thổi hắc tiêu cho lan nghe. Đà Lạt 1956”. Nhất Linh đam mê hoa lan say đắm. Đọc những đoạn văn diễm lệ như được rút ra từ Hồng Lâu Mộng để mô tả sở thích chơi lan của một nhà văn, người ta dễ dàng hình dung ra một người phong lưu như chàng thái tử Đại Lý say mê vẻ đẹp trong Thiên Long Bát Bộ, dù bị phu nhân vua dọa chặt chân làm phân cho cây lan, vẫn luôn đam mê nghệ thuật và khiến cho phu nhân tự cảm thấy mình như người thấp kém. Tuy nhiên, thậm chí cả hình ảnh ấy cũng đầy trống rỗng, vì nó quá xa vời, quá siêu thực, quá vượt quá khỏi hiện thực, quá sung sướng, không thể thuộc về thế giới này.
Theo Hiền Trang/Tạp chí Tia Sáng
