- Tứ diện là một khối đa diện có 4 mặt tam giác, 6 cạnh và 4 đỉnh, là hình đa diện lồi đơn giản nhất.
- Tứ diện đều là loại tứ diện mà tất cả bốn mặt đều là tam giác đều và các cạnh có độ dài bằng nhau.
- Công thức tính diện tích mặt bên, diện tích toàn phần, độ dài đường cao, thể tích và các khoảng cách liên quan đến tứ diện đều được cung cấp.
- Tứ diện có mặt cầu ngoại tiếp và mặt cầu nội tiếp, cũng như các góc và bán kính liên quan đến mặt cầu.
- Công thức tính thể tích của tứ diện dựa trên các cạnh và công thức Euler cũng được đề cập.
Hình dạng của tứ diện
Trong hình học không gian, tứ diện (tiếng Anh: Tetrahedron) hay còn gọi là hình chóp tam giác, là một khối đa diện với bốn mặt là hình tam giác, 6 cạnh và 4 đỉnh. Đây là hình đa diện lồi đơn giản nhất và là khối đa diện duy nhất có số mặt ít hơn 5.
Tứ diện có thể coi là một dạng đặc biệt của hình chóp, tức là một hình đa diện có đáy là một đa giác trên mặt phẳng và một đỉnh nối với tất cả các đỉnh của đa giác đó. Đối với tứ diện, đáy của nó luôn là hình tam giác. Giống như mọi hình đa diện lồi khác, tứ diện có thể được hình thành bằng cách gấp một bản thiết kế sẵn có.
Mỗi tứ diện đều có một mặt cầu ngoại tiếp, tức là mặt cầu đi qua tất cả 4 đỉnh của tứ diện, và một mặt cầu nội tiếp, tức là mặt cầu tiếp xúc với tất cả 4 mặt của tứ diện.
Tứ diện đều
Một tứ diện đều(tiếng Anh: Regular tetrahedron) là loại tứ diện mà tất cả bốn mặt của nó đều là các tam giác đều, dẫn đến hai đặc điểm chính:
Tất cả các mặt của tứ diện đều là các tam giác đều, với kích thước bằng nhau.
Tất cả các cạnh của tứ diện đều có độ dài bằng nhau.
Tứ diện đều là một trong năm loại khối đa diện đều đã được biết đến từ lâu do Plato mô tả.
Các công thức liên quan
Các công thức dưới đây áp dụng cho tứ diện đều với cạnh dài a:
Tứ diện đều ABCD với đường tròn nội tiếp tâm O.
Diện tích mặt bên
Diện tích toàn phần
Độ dài đường cao
Khoảng cách từ trọng tâm tứ diện tới đỉnh
Khoảng cách giữa hai cạnh chéo nhau
Thể tích
Góc giữa cạnh và mặt phẳng không chứa cạnh đó
(Xấp xỉ 54,7356 độ)
Góc nhị diện
(Xấp xỉ 70,5288 độ)
Góc giữa hai đường thẳng nối trọng tâm của tứ diện tới hai đỉnh bất kì
(Xấp xỉ 109,4712 độ)
Góc khối
Bán kính mặt cầu ngoại tiếp tứ diện
Bán kính mặt cầu nội tiếp tứ diện
Bán kính mặt cầu bàng tiếp tứ diện
Ký hiệu
Hình động của khối tứ diện
Tứ diện với các đỉnh A, B, C, D thường được ký hiệu là (ABCD). Bất kỳ đỉnh nào trong số A, B, C, D đều có thể được coi là đỉnh chính; mặt tam giác đối diện với đỉnh đó gọi là đáy. Ví dụ, nếu chọn A làm đỉnh chính, thì mặt (BCD) là đáy của tứ diện.
Trọng tuyến là một trong bốn đường thẳng hạ từ một đỉnh xuống trọng tâm của mặt đáy. Khái niệm này tương tự như trung tuyến trong tam giác.
Đường cao của tứ diện là đoạn thẳng hạ vuông góc từ một đỉnh xuống mặt đáy.
Thể tích của tứ diện được tính giống như thể tích của hình chóp, bằng một phần ba tích của chiều cao và diện tích mặt đáy.
Các công thức của tứ diện
Xét tứ diện ABCD với các cạnh BC = a, AC = b, AB = c, AD = d, BD = e, CD = f và thể tích là V.
Công thức tính thể tích của tứ diện dựa trên 6 cạnh:
Công thức Euler.
Công thức tính thể tích hình chóp dựa trên các cạnh:
Công thức tính cosin của bốn vector.
Công thức tính cosin của bốn vector:
Công thức tính góc nhị diện: Gọi diện tích hai tam giác BCD và ACD lần lượt là S1 và S2. Ta có:
Công thức xác định đường vuông góc chung:
Đường vuông góc chung của AB và CD cắt AB tại điểm I. Đặt . Khi đó:
Thể tích của tứ diện SABC với các cạnh SA = a, SB = b, SC = c và các góc :
Theovi.wikipedia.org
Copy link
5
Nội dung từ Mytour nhằm chăm sóc khách hàng và khuyến khích du lịch, chúng tôi không chịu trách nhiệm và không áp dụng cho mục đích khác.
Nếu bài viết sai sót hoặc không phù hợp, vui lòng liên hệ qua Zalo: 0978812412 hoặc Email: [email protected]
Trang thông tin điện tử nội bộ
Công ty cổ phần du lịch Việt Nam VNTravelĐịa chỉ: Tầng 20, Tòa A, HUD Tower, 37 Lê Văn Lương, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà NộiChịu trách nhiệm quản lý nội dung: Zalo: 0978812412 - Email: [email protected]