
| Họ Hến | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Mollusca |
| Lớp (class) | Bivalvia |
| Phân lớp (subclass) | Heterodonta |
| Bộ (ordo) | Veneroida |
| Phân bộ (subordo) | Sphaeriacea |
| Liên họ (superfamilia) | Corbiculoidea |
| Họ (familia) | Corbiculidae |
Họ Hến (Tên khoa học: Corbiculidae) là một họ của các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ thuộc bộ Veneroida. Chúng có vỏ cứng, hình tròn và sống trong môi trường nước lợ (cửa sông) và nước ngọt.
Các chi
- Corbicula Megerle von Mühlfeld, 1811 (phân bố ở miền trung và miền nam châu Phi, Trung Á và Nam Á)
- Geloina (Nam Á và Malaysia)
- Cyrenodonax (Hoa Nam và Việt Nam)
- Cyrenobatissa (miền Bắc Việt Nam)
- Batissa (Malaysia và Indonesia)
- Corbiculina (miền đông Australia)
- Solielletia (Ethiopia)
- Polymesoda Rafinesque, 1820 (duyên hải vùng Vịnh, duyên hải Đại Tây Dương thuộc Nam Mỹ)
- Neocorbicula Fischer, 1887 (duyên hải vùng Vịnh, ven bờ Đại Tây Dương thuộc phía bắc của Nam Mỹ)
- Pseudocyrena (ven bờ Caribe thuộc Trung Mỹ)
- Egetaria (ven bờ Đại Tây Dương thuộc Nam Mỹ)
- Villorita (phía đông của Nam Mỹ)
Các đặc điểm sinh học
Hến chỉ nhỏ hơn một ngón tay út, với vỏ có hình dáng bầu dục hoặc tam giác, đôi khi gần tròn, cân đối và dày. Đỉnh vỏ nhô cao, phần đầu và đuôi gần như bằng nhau. Các cạnh trước và sau đều tròn, trong khi cạnh bụng cong nhiều hơn. Mặt ngoài vỏ nhẵn bóng, màu vàng xanh hoặc vàng đen. Mặt trong vỏ màu trắng hoặc xám. Hến sinh sản bằng cách thả ấu trùng đã nở vào các vùng nước xung quanh nơi chúng sống. Quá trình thụ tinh xảy ra bên trong vỏ.
Tại Việt Nam, màu sắc của hến có sự khác biệt tùy theo môi trường sống. Vỏ hến có màu sáng khi sống ở rạch, chuyển sang màu sậm khi ở sông và có màu xanh óng ánh như thép khi lên cồn. Khi vỏ hến chuyển sang màu vàng nhạt thì vỏ mỏng và ruột sẽ mập và trắng hơn.
Hến là nguồn thực phẩm giàu vitamin B12 và sắt, rất phù hợp cho người bị thiếu máu. Hến cũng ít chất béo, cholesterol và chứa nhiều axit béo omega-3, có lợi cho sức khỏe tim mạch. Trong 100g thịt hến có 12,77g protein, 13,9 mg sắt, 0,245 mg đồng,...
Ở Việt Nam, thường gặp 4 loài hến là Corbicula baudoni, C. moreletiana, C. bocurti và C. cyreniformis. Hến bắt đầu từ rạch, khi lớn lên chuyển ra sông và khi trưởng thành thì sống ở vùng cồn. Hến sống ở cồn thường mập, trắng và tròn, rất ngon. Từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch, khi nước sông cạn, hến sinh sản nhiều sau mùa mưa (ở Quảng Nam). Hến có quanh năm, nhưng chủ yếu 'rộ mùa' từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch. Tháng 3, khi nước sông cạn, hến sinh sôi nảy nở nhiều hơn sau mùa mưa.
Ẩm thực
Hến được sử dụng trong nhiều món ăn khác nhau và tận dụng gần như toàn bộ. Ruột hến có thể xào hoặc nấu canh, nước luộc hến có vị ngọt đặc trưng, và vỏ hến dùng để sản xuất vôi. Một số món ăn phổ biến liên quan đến hến bao gồm Cơm hến, Cháo hến, và Gỏi cuốn hến. Trong số đó, Cơm hến của Huế nổi tiếng nhất với hương vị canh chua nhẹ, ngọt và thơm của hến kết hợp với rau răm. Đây là món ăn rất hấp dẫn vào những ngày hè. Tuy nhiên, vi khuẩn E.coli, thường xuất hiện trong nguồn nước tự nhiên (ngọt, mặn, lợ) và các nguồn nước không vệ sinh, có thể làm nhiễm khuẩn các sinh vật sống dưới nước như nghêu, sò, ốc, hến, cá,...
Chú thích
- Những tác hại ít người biết đến của trai và hến
- Hến Giàng Lưu trữ 2014-08-11 tại Wayback Machine
