
| Họ Vượn | |
|---|---|
| Thời điểm hóa thạch: 21.8–0 triệu năm trước đây TiềnЄ
Є
O
S
D
C
P
T
J
K
Pg
N
| |
Vượn tay trắng (Hylobates lar) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Bộ (ordo) | Primates |
| Liên họ (superfamilia) | Hominoidea |
| Họ (familia) | Hylobatidae Gray, 1870 |
Phân bố 4 chi vượn tại Đông Nam Á | |
| Các chi | |
†Bunopithecus | |
Họ vượn (danh pháp khoa học: Hylobatidae) là một họ chứa các loài vượn. Các loài hiện còn sinh tồn được chia ra thành 4 chi, dựa trên số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội của chúng: Hylobates (44), Hoolock (38), Nomascus (52), và Symphalangus (50). Loài tuyệt chủng Bunopithecus sericus là vượn hay linh trưởng giống như vượn, cho tới gần đây vẫn được coi là có liên hệ gần với vượn mày trắng (Hoolock). Các loài vượn còn sinh tồn sinh sống trong các rừng già nhiệt đới và cận nhiệt đới từ đông bắc Ấn Độ tới Indonesia, bao gồm cả các đảo như Sumatra, Borneo và Java, và về phía bắc tới miền Hoa Nam.
Còn được gọi là vượn nhỏ hay vượn loại nhỏ (tiếng Anh: lesser apes), loài vượn thuộc họ này khác với các loài vượn lớn (great apes) thuộc họ Người như tinh tinh, khỉ đột, đười ươi và con người ở chỗ tầm vóc nhỏ hơn, có mức độ dị hình giới tính thấp, không làm tổ và ở một số chi tiết cơ thể nhất định, trong đó chúng giống với các loài khỉ thường hơn là giống với vượn lớn. Các loài vượn nhỏ cũng kết đôi vĩnh cửu, không giống như các loài vượn lớn. Loài vượn nhỏ cũng vượt trội trong loài thú khi di chuyển bằng cách chuyền cành bằng hai tay, đu từ cành này sang cành khác có thể với khoảng cách lên tới 15 m (50 ft), với vận tốc cao tới 56 km/h (35 mph). Chúng cũng có thể nhảy xa tới 8 m (26 ft), và đôi khi đi lại bằng hai chân với hai tay giơ lên để giữ thăng bằng. Chúng nhanh nhẹn và uyển chuyển nhất trong số các loài thú sống trên cây cao mà không biết bay.
Tùy từng loài và phụ thuộc vào giới tính mà bộ lông của vượn có thể có màu từ nâu sẫm tới nâu nhạt, có khi đốm loang màu đen hay trắng. Vượn toàn trắng rất hiếm.
Trong số các loài vượn, có vượn mực, vượn tay trắng và vượn mày trắng. Vượn mực (Symphalangus syndactylus), loài vượn lớn nhất, được nhận diện bởi việc hai ngón chân trên mỗi chân hợp lại, từ đó có tên gọi Symphalangus và tên khoa học syndactylus.
Cấu trúc cơ thể

Một đặc điểm trong cơ thể của loài vượn là khớp xương cầu ổ ở cổ tay cho phép khớp này có thể di chuyển theo hai hướng. Ưu điểm này giúp vượn không cần phát triển sức mạnh tuyệt đối ở vai và thân trên. Khớp vai cũng giúp giảm sự căng thẳng khi vượn đu dây. Tỷ lệ giữa chiều dài tay chân và thân của vượn cao hơn so với các loài động vật khác, làm cho tầm với của chúng khá dài. Khoảng cách giữa ngón cái và ngón trỏ cũng lớn, giúp vượn có thể nắm chắc vật thể.
Lông của vượn thường có màu đen, xám hoặc nâu, đôi khi có những đốm hay vệt màu trắng ở tay, chân và mặt. Đôi khi, vượn đực có những vệt sậm màu xen lẫn trong lớp màu trắng. Một số loài có bướu lớn ở cổ họng, có vai trò trong việc phát ra những âm thanh khi hú. Kích thước của bướu có thể lớn đến mức gần bằng đầu của con vật.
Cấu trúc hộp sọ và răng của vượn tương tự như các loài vượn lớn, còn mũi của chúng giống như mũi của tất cả các loài linh trưởng mũi hẹp. Công thức răng của chúng là .
Thói quen sinh hoạt
Vượn là động vật sống thành bầy kiểu xã hội. Mỗi bầy chiếm lĩnh một khu vực và sẵn sàng bảo vệ lãnh thổ bằng cách kêu hú hoặc phô diễn. Tiếng vượn hú có thể vọng xa đến 1 km, thường là âm thanh của cặp vượn trong thời gian sinh sản. Có khi các con vượn non cũng tham gia vào. Khi vượn kêu một mình, thường là vượn đực (hoặc con cái chưa trưởng thành) kêu để tìm bạn đồng hành, mời gọi tình nhân hoặc báo hiệu lãnh thổ. Nếu thích tiếng kêu đó, vượn đối phương sẽ đến gặp, giao phối và thiết lập mối quan hệ. Quá trình giao phối có thể kéo dài đến 3 ngày với nhiều lần giao cấu. Tiếng vượn đùa trong thời gian này có thể làm chúng dễ bị săn bắt, chủ yếu là để cung cấp thịt cho thị trường động vật hoang dã, bao gồm cả ngành dược phẩm truyền thống mua nhiều bộ phận. Bởi vì mỗi loài vượn có tiếng kêu riêng biệt, khoa học có thể nhận diện từng loài và xác định môi trường sống của chúng qua tiếng kêu.
Các khớp xương cầu ổ (ball and socket joint) ở tay vượn cho phép chúng đu dây trên cây cao một cách nhanh chóng và chính xác. Tuy nhiên, nếu vô tình rơi từ cây hoặc cây gãy, vượn dễ bị thương. Khoa học ước tính rằng, trung bình mỗi con vượn sẽ gãy xương ít nhất một lần trong đời.
Tình trạng bảo tồn
Phần lớn các loài động vật đang đối mặt với nguy cơ bị đe dọa hoặc cận nguy, chủ yếu do sự suy giảm số lượng và mất môi trường sống tự nhiên.
Phân loại

- Họ Hylobatidae: gồm các loài vượn
- Chi Hylobates: bao gồm loài vượn lùn
+ Vượn tay trắng (Hylobates lar):
+ Vượn tay trắng Malaysia (Hylobates lar lar)
+ Vượn tay trắng Carpenter (Hylobates lar carpenteri)
+ Vượn tay trắng miền trung (Hylobates lar entelloides)
+ Vượn tay trắng Sumatra (Hylobates lar vestitus)
+ Vượn tay trắng Vân Nam (Hylobates lar yunnanensis)
+ Vượn râu trắng Borneo (Hylobates albibarbis)
+ Vượn tay đen (Hylobates agilis)
+ Vượn Borneo Müller (Hylobates muelleri):
+ Vượn xám Müller (Hylobates muelleri muelleri)
+ Vượn xám Abbott (Hylobates muelleri abbotti)
+ Vượn xám miền bắc (Hylobates muelleri funereus)
+ Vượn bạc (Hylobates moloch):
+ Vượn bạc miền tây hay vượn miền tây Java (Hylobates moloch moloch)
+ Vượn bạc miền đông hay vượn Trung Java (Hylobates moloch pongoalsoni)
+ Vượn pilê (Hylobates pileatus)
+ Vượn Kloss hay vượn Mentawai hoặc vượn Bilou (Hylobates klossii)
- Chi Hoolock:
+ Vượn mày trắng miền tây (Hoolock hoolock)
+ Vượn mày trắng miền đông (Hoolock leuconedys)
- Chi Symphalangus:
+ Vượn mực (Symphalangus syndactylus)
- Chi Nomascus: gồm loài vượn mào
+ Vượn mào đen má hung Trung bộ (Nomascus annamensis)
+ Vượn đen tuyền tây bắc (Nomascus concolor):
+ Nomascus concolor concolor: Bắc Bộ, Việt Nam
+ Nomascus concolor lu: Lào
+ Nomascus concolor jingdongensis: Trung Vân Nam
+ Nomascus concolor furvogaster: Tây Vân Nam
+ Vượn đen Đông Bắc (Nomascus nasutus):
+ Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus)
+ Vượn mào đen Hải Nam (Nomascus nasutus hainanus)
+ Vượn đen má trắng hay vượn đen bạc má (Nomascus leucogenys)
+ Vượn Siki hay vượn má trắng phương nam (Nomascus siki)
+ Vượn đen má hung (Nomascus gabriellae)
Tiến hóa
Xác định niên đại tiến hóa của Họ vượn không phải là điều dễ dàng. Các ước tính khoa học nhất hiện nay cho rằng chi Nomascus chia ra khỏi nhánh chính cách đây khoảng 8 triệu năm trước (Ma); chi Symphalangus và chi Hylobates chia ra khoảng 7 Ma. Về mức loài, Hylobates pileatus chia ra khỏi Hylobates lar và Hylobates agilis khoảng 3,9 Ma, trong khi Hylobates lar và Hylobates agilis chia thành hai loài riêng biệt khoảng 3,3 Ma.
Các nghiên cứu khoa học đã sử dụng nhiều dữ liệu khác nhau để phân loại Họ vượn, bao gồm hình thái cơ thể, thanh âm, nhiễm sắc thể và di truyền học.
Các nghiên cứu đồng ý rằng Họ vượn Hylobatidae có thể được phân thành 4 chi đơn ngành: Hylobates, Symphalangus, Nomascus và Hoolock. Tuy nhiên, các nghiên cứu về di truyền học vẫn có mâu thuẫn về mối quan hệ giữa các chi này. Một số nghiên cứu xếp Nomascus là đơn vị phân loại cơ sở nhất, trong khi các nghiên cứu khác lại ủng hộ vị trí cơ sở của chi Hoolock. Các bằng chứng hình thái học hỗ trợ cho vị trí cơ sở của Symphalangus. Thứ hai, trong phạm vi chi Hylobates, sự không chắc chắn về mối quan hệ giữa các loài khác nhau vẫn còn nhiều. Câu hỏi quan trọng liên quan đến vị trí của thành viên cơ sở nhất trong chi Hylobates vẫn còn đang được tranh luận.
Sử dụng phân tích phát sinh chủng loài phân tử, có nhiều diễn giải khác nhau về lịch sử tiến hóa của Họ vượn Hylobatidae. Chatterjee (2006) đề xuất rằng Hylobatidae bắt đầu phân bố tại Đông Dương vào khoảng 10,5 Ma và tiếp tục phát triển chủ yếu về hướng nam, với sự phân bố của chi Hoolock về phía tây. Whittaker và đồng nghiệp (2007) xem xét chi Hylobates và cho rằng có một sự bành trướng địa lý chung theo hướng bắc-nam. Thịnh và đồng nghiệp (2010) gợi ý rằng sự phân bố giữa các loài vượn xảy ra trên đại lục Đông Nam Á vào thế Miocen, đặc biệt là trong khu vực của dãy núi Hoành Đoạn ngày nay. Sau đó, các chi vượn di cư đến vùng đất nay của chúng trên đại lục, tiếp theo là sự mở rộng về phía nam của chi Hylobates vào vùng thềm Sunda, nơi các loài dị vực chủ yếu hình thành.
Theo Israfil và đồng nghiệp (2011), Họ vượn Hylobatidae hình thành khoảng 21,8 Ma (19,7-24,1 Ma), với sự phân bố chi Hoolock xảy ra khoảng 7,3 Ma (6,4–8,0 Ma). Sau đó, sự phân bố của Nomascus và sự kết hợp của Symphalangus + Hylobates diễn ra vào khoảng 7,0 Ma và 6,4 Ma. Sự phân bố của chi Hylobates xảy ra khoảng 3,5 Ma (3,1–4,0 Ma).
Cây phát sinh chủng loài dưới đây dựa trên nghiên cứu của Israfil và đồng nghiệp (2011).
| Hylobatidae |
| ||||||||||||||||||
Lai ghép
Nhiều loài vượn không thể nhận dạng chỉ qua màu sắc lông, mà cần phải dựa vào giọng hú hay phân tích gen.
Trong văn hóa truyền thống

Việt Nam
Khỉ xuất hiện trong văn học dân gian Việt Nam như trong bài hát 'Lý qua cầu' ở Huế và bài hát 'Ăn ở trong rừng' thuộc dòng Quan họ Bắc Ninh. Ca trù và điệu xẩm huệ tình cũng đề cập đến khỉ. Còn trong ca dao miền Nam có câu:
- Má ơi! Đừng cho con đi xa
- Chim kêu khỉ hót biết nhà má đâu.
Tục ngữ về khỉ có câu: Khỉ lìa cây có ngày khỉ rũ. Trong văn học, hai tác phẩm nổi tiếng là Truyện Kiều và Lục Vân Tiên đều nhắc đến khỉ, đặc biệt là tiếng hót của chúng. Trong tín ngưỡng, hình ảnh con khỉ hiện ra như biểu tượng cho miền núi hoang sơ khi khỉ xuất hiện dâng cúng hoa quả.
Trung Quốc
Vượn có mặt ở vùng Nam Hoa ít nhất từ thời nhà Tống. Từ khoảng thế kỷ 14 trở đi, do hệ sinh thái bị con người phá hoại, loài vượn dần biến mất. Trong văn chương cổ Trung Quốc, vượn được xem như 'quý phái', tương tự như 'quân tử' (君子) của rừng xanh, trong khi loài khỉ vàng bị dùng thức ăn để bị mua chuộc. Đạo Lão thì mô tả tính chất huyền bí của loài vượn, cho rằng chúng có thể sống đến nghìn năm và biến thành người. Mỹ thuật Trung Quốc ghi lại hình dáng của vượn từ thế kỷ 3-4 TCN (thời nhà Chu). Chúng cũng là đề tài mỹ thuật cho họa sĩ thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên như Dịch Nguyên Cát và Mục Khê Pháp Thường vẽ lại rất trung thực.
Nhật Bản
Dưới sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, hình ảnh Thiền 'vượn bắt ánh trăng trong nước' đã trở nên phổ biến trong mỹ thuật Nhật Bản, mặc dù không có loài vượn nào tồn tại tự nhiên tại Nhật Bản.
Thư viện hình ảnh












Liên kết ngoài
- Trung tâm Bảo tồn Gibbon
- Mạng lưới và Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Gibbon
Ghi chú
Các loài hiện hữu thuộc Họ Vượn |
|---|
