
Như Jennifer Gonzalez đã chỉ ra trên trang blog nổi tiếng Cult of Pedagogy:
Vậy học tập tự chủ là gì? Nhà động vật học Scott Freeman, sau này trở thành chuyên gia học tập tự chủ, cùng các đồng nghiệp – những tác giả của nghiên cứu được trích dẫn ở đầu chương – đã khảo sát nhiều giảng viên đại học và đưa ra định nghĩa sau: “Học tập tự chủ là khi người học tham gia vào quá trình học thông qua các hoạt động và/hoặc thảo luận trong lớp học, thay vì thụ động lắng nghe chuyên gia. Nó nhấn mạnh vào tư duy bậc cao và thường gắn với làm việc nhóm.”
Chúng ta có thể nhìn nhận học tập tự chủ từ góc độ khoa học thần kinh như thế nào? Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng tốt học tập tự chủ có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc tạo ra và củng cố các kết nối thần kinh trong trí nhớ dài hạn, nền tảng của nhận thức khái niệm cơ bản và tư duy bậc cao. Học tập tự chủ, đặc biệt trong các lĩnh vực khó hơn (sẽ được trao đổi kỹ hơn trong chương 5), thường là điều kiện cần thiết cho giai đoạn kết nối trong quá trình học và kết nối. Hãy nhớ rằng, học diễn ra khi các neuron tìm kiếm và bắt đầu kết nối với nhau. Nhưng kết nối là khi học sinh củng cố và mở rộng các kết nối thần kinh đã có. Làm việc nhóm có thể tạo điều kiện cho học tập tự chủ, nhưng không phải là cách duy nhất.
Tại sao chúng tôi nhấn mạnh rằng cả kiến thức cơ bản, thông tin thực tế và khái niệm bậc cao đều là những khía cạnh quan trọng của học tập tự chủ nói riêng và học tập nói chung? Vì khoa học thần kinh cho thấy rằng, để học tập thành công, học sinh cần những thông tin thiết yếu trong trí nhớ dài hạn, bao gồm các định nghĩa và ví dụ. Những kết nối thần kinh này là nền tảng cho sự hiểu biết khái niệm và là bước đệm cho tư duy sáng tạo trong tương lai. Như Natalie Wexler đã lưu ý trong cuốn 'The Knowledge Gap' (Khoảng trống tri thức):
Vấn đề không hẳn là các bit (đơn vị) thông tin cụ thể tự thân chúng đóng vai trò thiết yếu – mặc dù một số rõ ràng là có. Vấn đề nằm ở chỗ con người cần có đủ dữ kiện trong đầu để có được cái mà một nhà phê bình gọi là “một bữa tiệc tri thức” – một loạt các liên kết đã được tích lũy trước đó sẽ cho phép con người tiếp thu, lưu giữ và phân tích các thông tin mới.
