
|
Mang Thít
|
|||
|---|---|---|---|
| Huyện | |||
| Huyện Mang Thít | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | Việt Nam | ||
| Vùng | Đồng bằng sông Cửu Long | ||
| Tỉnh | Vĩnh Long | ||
| Huyện lỵ | Thị trấn Cái Nhum | ||
| Phân chia hành chính | 1 thị trấn, 11 xã | ||
| Thành lập | 29/9/1981 | ||
| Tổ chức lãnh đạo | |||
| Chủ tịch UBND | Nguyễn Văn Diên | ||
| Chủ tịch HĐND | Nguyễn Thành Tâm | ||
| Bí thư Huyện ủy | Nguyễn Thành Tâm | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: | |||
| |||
| Diện tích | 160 km² | ||
| Dân số (1/4/2009) | |||
| Tổng cộng | 99.201 người | ||
| Mật độ | 620 người/km² | ||
| Dân tộc | Kinh, Hoa, Khmer | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 858 | ||
| Biển số xe | 64-G1 XXX.XX | ||
| Website | mangthit | ||
Bà Thít là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long, nằm ở miền Nam Việt Nam.
Khu vực
Huyện Bà Thít tọa lạc ở phía đông tỉnh Vĩnh Long, bên bờ sông Tiền, với các đặc điểm địa lý như sau:
- Phía đông và phía bắc giáp huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
- Phía tây giáp huyện Long Hồ và huyện Tam Bình
- Phía nam giáp huyện Vũng Liêm.
Đặc điểm địa hình
Địa hình Bà Thít chủ yếu là đồng bằng, với độ cao dao động từ 0,6m đến 2,0m. Khu vực ven sông Cổ Chiên và sông Bà Thít có độ cao nhô lên, trong khi các khu vực khác thấp dần về phía trung tâm huyện, được chia thành các khu vực độ cao như sau:
- Khu vực có độ cao từ 0,4 – 0,6m chiếm 0,21% diện tích, tập trung ở các xã: Mỹ An, Mỹ Phước
- Khu vực có độ cao từ 0,8 – 1,0m chiếm 17,83% diện tích, phân bố tại các xã: Long Mỹ, Hòa Tịnh, Mỹ Phước, Nhơn Phú, Tân Long, Tân Long Hội, Tân An Hội, Chánh Hội
- Khu vực có độ cao từ 1,0 – 1,2m chiếm 49,04% diện tích, phân bố đồng đều ở các xã
- Khu vực có độ cao từ 1,2 – 1,4m chiếm 24,0% diện tích, chủ yếu ở các xã ven sông Bà Thít và sông Cổ Chiên như: Mỹ An, Mỹ Phước, An Phước, Chánh An, Tân An Hội, Tân Long Hội
- Khu vực có độ cao từ 1,4 – 1,6m chiếm 6,25% diện tích, phân bố tại các xã: Chánh An, An Phước, Mỹ Phước, Mỹ An và thị trấn Cái Nhum
- Khu vực có độ cao từ 1,6 – 1,8m chiếm 2,47% diện tích, tập trung ở xã An Phước và thị trấn Cái Nhum
- Khu vực có độ cao từ 1,8 – 2,0m chiếm 0,20% diện tích, chủ yếu ở xã An Phước.
Tổng quan về địa hình của huyện cho thấy sự giảm dần độ cao từ các khu vực ven sông Cổ Chiên và sông Bà Thít vào trung tâm huyện, cùng với mạng lưới kênh rạch phong phú. Địa hình này, với độ cao trung bình đến thấp, rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa ở khu vực nội đồng và cây ăn trái dọc theo các con sông và rạch. Các khu vực có độ cao trên 1m còn có tiềm năng khai thác sét để sản xuất gốm và gạch ngói. Tuy nhiên, việc khai thác đất làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói trong thời gian qua đã tạo ra nhiều tiểu địa hình thấp khác nhau.
Khí hậu
Bà Thít nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với thời tiết nóng ẩm quanh năm và mức độ bức xạ cao. Theo thống kê khí tượng qua các năm, nhiệt độ trung bình dao động từ 27,3 - 27,8 °C. Tuy nhiên, trong mùa khô, đặc biệt là các tháng 4 và 5 năm 2010, nhiệt độ có thể đạt tới 35,5 - 38 °C. Tổng lượng bốc hơi trong các tháng đầu năm 2010 cao hơn mức trung bình nhiều năm khoảng 100 mm.
- Nhiệt độ cao nhất ghi nhận từ năm 2006 – 2010 là 37,2 °C, nhiệt độ thấp nhất là 17,7 °C và biên độ nhiệt giữa ngày và đêm trung bình là 7,30 °C.
- Bức xạ mặt trời trên địa bàn huyện khá cao, với trung bình 7,5 giờ nắng mỗi ngày. Bức xạ quang hợp hàng năm đạt 79.600 cal/m². Thời gian chiếu sáng bình quân hàng năm là từ 2.550 - 2.700 giờ. Điều kiện nhiệt độ và bức xạ dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
- Độ ẩm không khí trung bình dao động từ 81 - 85%, với độ ẩm cao nhất đạt 88% vào tháng 9 và thấp nhất là 77% vào tháng 3. Độ ẩm trung bình năm 2009 đạt khoảng 84%, cao hơn 7% so với mức trung bình nhiều năm.
- Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 100 - 115 ngày với tổng lượng mưa đạt từ 1.550 - 1.650 mm/năm. Riêng năm 2009, lượng mưa đạt 1.353 mm/năm.
Thủy văn
Huyện Bà Thít, như toàn tỉnh Vĩnh Long, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều từ biển Đông qua các con sông lớn như sông Cổ Chiên và sông Bà Thít. Đặc điểm địa hình nơi đây rất nhạy cảm với biến động của nước trên sông, rạch, với 2 lần triều lên và xuống trong ngày, và 2 lần triều lớn vào đầu và giữa tháng âm lịch. Bên cạnh đó, hệ thống kênh rạch với mật độ 30 m/ha tạo điều kiện thuận lợi cho tưới tiêu nông nghiệp, giao thông thủy, và phục vụ sinh hoạt.
Với đặc điểm thủy văn này, tiềm năng tưới tiêu tự chảy cho cây trồng là khá lớn, khả năng tiêu thoát nước tốt, mang lại lợi thế lớn cho sản xuất nông nghiệp. Sự trao đổi nước mặt hiệu quả giúp làm sạch dòng sông, giảm thiểu ô nhiễm từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và các chất thải sinh hoạt cũng như công nghiệp.
Tổng quan, yếu tố khí hậu và thủy văn trong những năm qua khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh, và thích hợp với sự phát triển của đa dạng sinh học. Tuy nhiên, lượng mưa chủ yếu tập trung trong 6 tháng mùa mưa cùng với nước lũ từ thượng nguồn có thể gây ngập úng cục bộ, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Sự biến đổi khí hậu gần đây, kết hợp với việc khai thác nước từ thượng nguồn sông Mêkông, đang làm tăng tính cực đoan của khí hậu và sự bất ổn của mực nước, đồng thời xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất liền, làm giảm các yếu tố thuận lợi về khí hậu và thủy văn, đồng thời gia tăng các nguy cơ do biến đổi khí hậu trong tương lai.
Lịch sử
Bà Thít trước đây được gọi là Măng Thít hoặc Mân Thít. Sau khi khôi phục đất Gia Định, Nguyễn Ánh đã đặt tên phủ Mân Thít và giao cho Thổ quan Nguyễn Văn Tồn quản lý.
Năm 1827, huyện Mân Thít được đổi tên thành huyện Tuân Ngãi, thuộc phủ Lạc Hoá, trấn Vĩnh Thanh. Đến năm Minh Mạng thứ 13, huyện Tuân Ngãi thuộc tỉnh Vĩnh Long, bao gồm 5 tổng: Ngãi Hoà, Ngãi Long, Thành Trị, Tuân Giáo và Tuân Lễ. Vào đầu thời kỳ Pháp thuộc, huyện bị giải thể và sáp nhập vào hạt thanh tra Lạc Hoá.
Ngày 25 tháng 1 năm 1908, thực dân Pháp thành lập quận Cái Nhum, bao gồm 2 tổng: Bình Thạnh với 3 làng và Bình Chánh với 5 làng.
Ngày 18 tháng 12 năm 1916, quận Cái Nhum bị giải thể, tổng Bình Thạnh được sáp nhập vào quận Chợ Lách và tổng Bình Chánh vào quận Tam Bình cùng tỉnh.
Ngày 18 tháng 5 năm 1955, chính quyền Sài Gòn tái lập quận Cái Nhum thuộc tỉnh Vĩnh Long, tách ra từ quận Châu Thành, bao gồm tổng Bình Long với 9 xã, và quận lỵ được đặt tại Cái Nhum.
Ngày 8 tháng 10 năm 1957, quận Cái Nhum bị giải thể và địa bàn được sáp nhập vào quận Châu Thành và quận Chợ Lách cùng tỉnh.
Ngày 10 tháng 3 năm 1961, quận Cái Nhum được khôi phục với 2 tổng: Thanh Thiềng gồm 4 xã và Bình Thiềng gồm 4 xã.
Ngày 31 tháng 5 năm 1961, quận Cái Nhum được đổi tên thành quận Minh Đức.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cái Nhum trở thành huyện thuộc tỉnh Cửu Long, bao gồm 7 xã: An Phước, Bình Phước, Chánh Hội, Hòa Tịnh, Mỹ An, Nhơn Phú và Tân Long Hội.
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Cái Nhum được sáp nhập với huyện Châu Thành Tây (trừ 2 xã Tân Ngãi, Tân Hoà) và 2 xã Hoà Hiệp, Hậu Lộc của huyện Tam Bình để thành lập huyện Long Hồ.
Ngày 29 tháng 9 năm 1981, huyện Mang Thít được thành lập theo Quyết định số 89/1981/QĐ-HĐBT, tách ra từ huyện Long Hồ và bao gồm 8 xã: An Phước, Chánh Hội (trung tâm huyện lỵ), Tân Long Hội, Nhơn Phú, Mỹ An, Hoà Tịnh, Bình Phước và Long Mỹ. Xã Long Mỹ được hình thành bằng cách chia tách xã Tâm Long cũ thành 2 xã: Long Mỹ và Thanh Đức.
Ngày 17 tháng 4 năm 1986, huyện Mang Thít bị giải thể và được sáp nhập vào huyện Long Hồ.
Ngày 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu Long được chia thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, với huyện Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 13 tháng 2 năm 1992, huyện Mang Thít được tái lập từ huyện Long Hồ, gồm 8 xã như trước.
Ngày 18 tháng 3 năm 1994, thị trấn Cái Nhum được thành lập từ một phần diện tích và dân số của xã Chánh Hội.
Ngày 9 tháng 8 năm 1994, huyện Mang Thít thành lập thêm 4 xã mới là Tân An Hội, Tân Long, Mỹ Phước và Chánh An.
Ngày 1 tháng 2 năm 2020, xã Chánh Hội được sáp nhập vào thị trấn Cái Nhum.
Hiện tại, huyện Mang Thít có 1 thị trấn và 11 xã.
Hành chính
Huyện Mang Thít bao gồm 12 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có thị trấn Cái Nhum (huyện lỵ) và 11 xã: An Phước, Bình Phước, Chánh An, Hòa Tịnh, Long Mỹ, Mỹ An, Mỹ Phước, Nhơn Phú, Tân An Hội, Tân Long, và Tân Long Hội.
Kinh tế - xã hội
Kinh tế
Sông Mang Thít không chỉ là một tuyến giao thông quan trọng trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mà còn là nơi nuôi cá bè với năng suất cao. Ngoài ra, đây còn là trung tâm sản xuất gạch ngói và gốm đỏ của Vĩnh Long và khu vực Tây Nam Bộ. Mang Thít cũng nổi tiếng với sản xuất lúa gạo và trái cây chất lượng.
Kinh tế huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp, bao gồm trồng lúa nước, cây ăn trái và chăn nuôi. Trong những năm gần đây, nhờ tận dụng lợi thế từ các con sông, nông dân đã phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, mang lại sản lượng cao và thúc đẩy sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu nông nghiệp. Huyện Mang Thít có hai khu vực chính sản xuất thủy sản: dọc theo sông Mang Thít và sông Cổ Chiên.
Ngành thủ công ở Mang Thít phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là nghề gốm sứ mỹ nghệ. Gốm mỹ nghệ Mang Thít nổi bật với màu sắc đặc trưng và mẫu mã phong phú, từ đơn giản đến tinh xảo, thu hút khách hàng trong nước và quốc tế. Các lò sản xuất gạch nung và gốm mỹ nghệ tập trung chủ yếu ở các xã Nhơn Phú, Mỹ An, Mỹ Phước. Sản phẩm gốm mỹ nghệ từ Mang Thít đã có mặt trên thị trường quốc tế, đặc biệt là tại các nước Á - Âu. Bên cạnh đó, còn có các mặt hàng thủ công mỹ nghệ gia công xuất khẩu khác như mây tre, dệt chiếu và đan lát.
Xã hội


Để đáp ứng sự phát triển kinh tế, huyện Mang Thít đã đầu tư mạnh mẽ vào công tác xã hội, đặc biệt là trong việc xây dựng và cải thiện hệ thống hạ tầng cơ sở, với trọng tâm là giao thông nông thôn. Huyện đã chi hàng chục tỷ đồng để nâng cấp và xây dựng các tuyến đường liên ấp và liên xã, đảm bảo thông xe hai bánh trong cả mùa mưa và nắng.
Hầu hết các xã trong huyện đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, với một số xã có đến 3-4 điểm trường. Đối với khối trung học phổ thông, huyện có 3 điểm trường chính: Trường Trung học Mang Thít, Trường Bán công Mang Thít (hiện nay là Trường THPT Nguyễn Văn Thiệt), và Trường Cấp 2-3 Mỹ Phước. Tất cả các điểm trường đều được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Mang Thít là huyện tiên phong trong tỉnh về việc phổ cập trung học cơ sở và đang hướng tới việc phổ cập trung học phổ thông.
Văn hóa
Các di tích lịch sử
- Thánh Tịnh Ngọc Sơn Quang
Thánh thất này thuộc phái Tiên Thiên của đạo Cao Đài và đã được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 31 tháng 8 năm 1998.
Chú thích
Liên kết ngoài
Xã, thị trấn thuộc huyện Mang Thít |
|---|
Đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Vĩnh Long |
|---|
