
Ở Stanford, tôi học và làm việc với những người giỏi nhất thế giới. Họ giải quyết những vấn đề có thể thay đổi cuộc sống của hàng triệu người, thậm chí thay đổi lịch sử nhân loại. Tôi thấy câu chuyện của mình thật... nhạt nhẽo. Việc đi nhờ xe dọc châu Phi của tôi sao sánh được với cậu bạn nghiên cứu ghép hàng trăm ngàn bệnh nhân ung thư với phương pháp trị liệu tối ưu? Sách của tôi là best-seller ở Việt Nam ư? Cậu bạn học cùng lớp Toán đã tìm ra cách giảm chi phí năng lượng mặt trời và vào danh sách '30 Under 30' của Forbes. Tôi giỏi thật đấy nhưng làm sao sánh bằng giáo sư của tôi, người đã bỏ học năm mười bốn tuổi để lang thang khắp thế giới, phát minh nhiều phương pháp toán ảo thuật, rồi hoàn thành chương trình tiến sĩ Harvard trong hai năm? Bạn tôi đấu tranh cho hôn nhân đồng tính, còn hàng xóm thì hướng đến việc đưa người lên sao Hỏa. Anh chàng hay gặp ở tầng hầm trường là chuyên gia hàng đầu về Xử lý Ngôn ngữ Tự nhiên, muốn giúp máy tính hiểu và giao tiếp như con người.
Dù không có lý do để ra sách, tôi vẫn viết. Mỗi khi gặp ai đó thú vị, tôi viết về họ. Mỗi khi nghe điều gì mới mẻ, tôi ghi vào nhật ký. Những gì tôi làm có thể nhỏ bé nhưng câu chuyện của những người tôi gặp không nhỏ chút nào. Họ giúp tôi hiểu giới hạn của bản thân, sự ích kỷ tưởng chừng vô hại, và trách nhiệm với thế giới. Họ biến tôi từ một đứa chán ghét cuộc sống gò bó thành người lên lịch từng giây từng phút. Họ biến tôi từ người luôn muốn đi đây đi đó thành người không còn bận tâm mình sẽ ở đâu, bao lâu, miễn là xung quanh có những người giỏi hơn và dạy tôi nhiều điều về học thuật và cuộc sống.
Nếu được quay lại tuổi mười tám, tôi vẫn sẽ chọn lên đường bởi mục tiêu lớn nhất là khám phá thế giới. Nhưng bây giờ, nếu bảo tôi đi một chuyến như vậy nữa, tôi sẽ từ chối.
'Đi thì vui thật nhưng chẳng mang lại giá trị gì cho ai ngoài bản thân tôi. Tôi muốn tạo ra một sản phẩm có ích cho xã hội.'
Càng viết, tôi càng nhận ra những gì mình viết không còn chỉ vì bản thân. Đó là câu chuyện của Jaime - cậu hàng xóm thiên tài tin rằng cuộc sống là để cống hiến, chứ không phải để tận hưởng, và những người tìm kiếm hạnh phúc cá nhân là kẻ ích kỷ. Đó là câu chuyện của Ari - anh chàng trở thành đại kiện tướng cờ vua lúc mười ba tuổi, rồi quyết định từ bỏ thế giới trắng đen để trở lại trường học, mong muốn một cuộc sống bình thường. Đó là câu chuyện của những bạn trẻ tưởng chừng như có cuộc sống hoàn hảo - thành công trong tầm tay - nhưng thực ra họ luôn nghi ngờ bản thân, đấu tranh với trầm cảm, gục ngã trước áp lực và phải giả vờ hạnh phúc. Tôi muốn chia sẻ những câu chuyện đó vì ở Việt Nam, chúng ta hay nhắc đến giấc mơ du học nhưng thường chỉ bàn về xếp hạng, học phí, chuyên ngành mà ít khi nói về cuộc sống thực sự ở đại học Mỹ. Cuốn sách này dựa trên nhân vật và sự kiện có thật, một số chi tiết đã được thay đổi để bảo vệ quyền riêng tư của những người liên quan.
Khi quyết định ra mắt cuốn sách thứ ba, tôi có thêm cơ hội gặp gỡ độc giả, những người đã ủng hộ hai cuốn sách trước của tôi và luôn động viên tôi. Qua cuốn sách này, tôi muốn họ biết rằng tôi vẫn ổn, tôi chưa bỏ cuộc và sẽ không bao giờ bỏ cuộc.
Huyền Chip

***
Mùa Thu
Giấc Mơ Stanford
Sĩ quan hải quan tiếp nhận tôi là một bác trung niên gốc Á. Bác nhìn lướt qua mớ giấy tờ tôi đưa rồi nhanh chóng trả lại tôi hơn một nửa.
“Cái này không cần.”
Tôi nhận lại xấp giấy vẫn còn nồng mùi máy bay. Sau khoảng ba mươi giây (trong thời gian đó tôi đã đổi chân đến mười lần), bác ngẩng lên nói với tôi bằng tiếng Anh pha chút âm tiết tiếng Trung:
“Chúc mừng cháu.”
“Dạ?”
“Cháu chuẩn bị vào học Stanford. Rất tốt.”
“Cháu cảm ơn.”
“Cháu biết mình sẽ học gì chưa?”
“Chưa ạ… Có lẽ là ngành Văn học.”
“Văn học à, không tốt!” Bác lắc đầu. “Học làm bác sĩ, rất tốt.”
“Cháu không giỏi Hóa”, tôi nói với bác.
“Sinh viên Stanford thông minh, học gì cũng sẽ giỏi.”
“Cháu sẽ suy nghĩ về việc này.”
“Không cần suy nghĩ nhiều.” Bác đóng dấu nhập cảnh vào hộ chiếu của tôi. “Chào mừng cháu đến nước Mỹ. Nhớ là phải trở thành bác sĩ đấy nhé!”
“Vâng.”
Bình thường nếu bị chụp mũ kiểu thế này chỉ vì là tôi người châu Á, tôi sẽ cáu lắm, nhưng lúc đó tôi chỉ thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ câu chuyện mà tôi đã nghĩ là độc đáo của mình lại hóa ra là một điều quá bình thường ở Mỹ. Có lẽ ước mơ về nước Mỹ không chỉ là lý do khiến những người có nốt ruồi ở chân rời bỏ quê hương mà thực sự là nơi để họ cảm thấy mình thuộc về. Tôi cảm thấy vui vì một người gốc Á khác chấp nhận tôi là một người gốc Á trên đất nước của họ. Tôi nhớ đến đoạn hài hước trong “Family Guy” với nội dung: một ông bố châu Á bước vào phòng con trai mình.
“Con đã trở thành bác sĩ chưa?”
“Chưa bố, con mới 12 tuổi”, cậu bé cáu kỉnh trả lời.
“Thì thôi. Hãy nói chuyện với bố khi con đã trở thành bác sĩ rồi nhé!”
Tôi biết rằng cứ khi nào ở trên đất Mỹ, tôi sẽ luôn là một người gốc Á.
phmạng xã hộiphmạng xã hộiChip à, bạn được may mắn có cơ hội bắt đầu lại từ đầu, đừng làm hỏng nó như trước nhé!
* * *
Có lẽ tôi không nên giả định thay vì biết chắc cô bạn cùng phòng. Gia đình cô bé đều cao lớn, tóc vàng, mắt xanh, nhưng cô bé lại khác. Không phải Sherlock nhưng tôi đoán cô bé là con nuôi. Phía trên bàn học cô có treo một câu đối tiếng Trung nên tôi nghĩ cô gốc Hoa. Nhưng rồi có lần tôi nghe cô Skype tiếng Hàn nên tôi lại nghĩ cô người Hàn. Sau này mẹ cô bé kể rằng cô có dòng máu người da đỏ Bắc Mỹ. Cô bé sinh ra trong hoàn cảnh thế nào? Tại sao cô lại trở thành con nuôi? Lớn lên trong một gia đình khác biệt thế thì cảm giác ra sao?
Ngày Sijo chuyển vào trường, mẹ cô bé khua ngón tay dài ngoằng chỉ vào góc phòng tôi: “Cháu nên nâng giường của mình lên và đẩy bàn học vào dưới giường để tạo ra không gian chung. Cháu hiểu bác nói gì không?”
Như một nữ tiên trong Chúa tể của những chiếc nhẫn, mẹ Sijo, dù đã năm mươi tuổi vẫn thanh mảnh, khua ngón tay dài ngoằng chỉ vào góc phòng tôi:
Bác trò chuyện với tôi một cách chậm rãi, như đang từng từ vần vã - giống như cách ta nói chuyện với một đứa trẻ chậm phát triển hoặc một người mới học tiếng Anh. Tôi gật đầu. Là người nước ngoài, tôi đến trường Sijo ba ngày trước để tham gia các buổi hướng dẫn văn hoá Mỹ cho sinh viên ngoại quốc. Trong ba ngày đó, tôi đã sắp xếp và sắp đặt lại đồ đạc nhiều lần trước khi cảm thấy hài lòng. Với tôi, góc phòng là quá hoàn hảo. Nếu phải suy nghĩ về nó thêm một giây nào nữa, đầu tôi chắc chắn sẽ nổ như pháo.
Sau đó, bác hỏi tôi biết nơi nào bán đồ sinh hoạt không. Tôi nói rằng hiệu sách của trường có bán, nhưng giá cả cao gấp đôi so với Walmart. Walmart cách trường mười lăm phút đi xe buýt, hoặc chỉ mất khoảng mười phút nếu lái xe. Bác gật đầu và khen tôi biết tiết kiệm. Nhưng mười phút sau, tôi nghe bác nói với con gái: “Đừng mua đồ ở Walmart, con ạ. Việc tiết kiệm vài chục đô không đáng kể so với công sức mà con phải bỏ ra.” Tôi thở dài. Có lẽ tôi và gia đình cô bạn cùng phòng sẽ trở thành bạn tốt.

“Không, tao chỉ định mua một số đồ linh tinh cho phòng tao thôi,” tôi đáp lại.
Họ nhìn tôi với ánh mắt lạ lùng.
“Mua đồ ở Goodwill mày không sợ à? Nếu món đồ mày mua thuộc về ai đó vừa mới mất thì sao?”
“Chẳng có vấn đề gì!” Tôi nhún vai, và sau nhiều lời nói để giữ chút cảm tình từ họ, tôi không thể kiềm chế miệng nói: “Có lẽ nó sẽ mở ra cho tôi khả năng nhìn nhận thế giới từ một góc độ khác.”
Đi học tại một trường danh tiếng, rõ ràng tôi sẽ gặp phải những người có điều kiện nhất, không chỉ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới. Con gái của Bill Gates cũng học cùng năm với tôi. Tôi tình cờ bắt gặp con trai của Steve Jobs đang trò chuyện với bạn ở một góc của trường. Người ta đồn rằng con gái của Barack Obama sẽ vào học tại Stanford và Malala, người trẻ nhất được trao giải Nobel cũng muốn theo học tại trường này. Trong mùa hè cuối cùng trước khi nhập học, những cậu bé, cô bé 18, 19 tuổi khoe trên facebook ảnh lái máy bay riêng trên bầu trời New York, học cách lái du thuyền ở Seychelles, đi nghỉ cùng gia đình ở Bahamas. Họ đến từ những gia đình quyền lực nhất. Họ là những đứa trẻ thông minh nhất. Họ học cùng những giáo sư hàng đầu thế giới. Họ sẽ trở thành bạn, hỗ trợ lẫn nhau trong sự nghiệp sau này. Nhìn vào những bức ảnh của họ trên facebook, tôi tự hỏi: “Làm thế nào mà họ có thể thất bại trong cuộc sống được chứ?” và sau đó tự đặt câu hỏi: “Tôi sẽ làm thế nào để hòa nhập ở đây?”
Trong cuối tuần đầu tiên ở Mỹ, Alexa ghé thăm tôi. Quen Alexa là một sự tình cờ (viết dòng này tôi mới nhận ra rằng không phải tất cả các cuộc gặp gỡ trong cuộc đời này đều tình cờ). Lúc đó cô ấy là sinh viên năm cuối tại Stanford. Khi biết tôi định nộp đơn vào trường, cô ấy cá cược rằng sớm muộn gì tôi cũng sẽ chán học và bỏ giữa chừng. Vì một lý do nào đó, Alexa tin rằng tôi sẽ là người thú vị nhất, hơn tất cả những người mà tôi sẽ gặp ở đây. Tôi vui vẻ cho đến khi cô ấy nói: người càng thú vị thì khả năng thành công trong sự nghiệp sẽ càng thấp vì họ chóng chán và luôn tìm kiếm thử thách mới. Tôi tự an ủi mình rằng có lẽ khái niệm “thú vị” của cô ấy hơi khác so với khái niệm “thú vị” của người bình thường.
Tôi và Alexa đang trò chuyện thì một chàng trai từ phòng bên ra. Cậu ấy đưa tay vào túi quần, đang nhai kẹo mút, bước đi ngả ngớn. Khi đi qua phòng tôi, cậu ấy nhổ kẹo ra khỏi miệng, đưa tay còn lại về phía chúng tôi và Alexa, mắt sáng như đèn pha ô tô.
“Xin chào, tớ là Jaime, sinh viên năm hai. Hai bạn là hàng xóm của tớ phải không?”
“Không, chỉ mình tôi là hàng xóm thôi,” tôi nói. “Alexa mới tốt nghiệp năm nay.”
“Ôi, cuộc sống thực sự!” Jaime quay sang Alexa, sau đó quay lưng lại về phía tôi. “Bạn đã học gì trước đó?”
Sau đó, Jaime tiếp tục nói chuyện với Alexa, đôi khi thổi kẹo vào miệng và nhai. Khi viết những dòng này, tôi không thể nhớ chính xác họ nói về gì, có lẽ tôi đã quá tập trung vào việc cố gắng tham gia vào cuộc trò chuyện mà quên đi việc lắng nghe. Tôi nhìn cô bạn của mình. Cô là một người lai: mẹ là người Mỹ Latinh, bố là người da trắng. Cô có một gương mặt đẹp và độc đáo. Hôm đó, cô ấy mặc quần da đen, đôi boot cao cổ đen, áo crop-top đen để lộ ra bụng phẳng. Cô tựa vào một tấm ván trượt cũng màu đen. Tôi nhìn chính mình: một cô gái châu Á bình thường, mặc quần jean, đôi dép xỏ ngón và áo phông rộng. Sau một số lần tham gia vào cuộc trò chuyện không thành công, tôi quyết định rời khỏi và để hai người tiếp tục nói chuyện với nhau. Thật là kỳ diệu khi cả bạn cùng phòng và hàng xóm đều quý trọng nhau như vậy!”
Do đó, khi Alexa hỏi về cách Stanford đối xử với tôi, tôi trả lời lém lỉnh:
“Tôi chỉ muốn học xong, lấy bằng và ra khỏi trường càng sớm càng tốt.”
Alexa cười to.
“Mày thật nhanh nhạy, mới mới vào trường đã có suy nghĩ như sinh viên năm cuối.”
“Có lẽ ấn tượng đầu tiên của tao là sai.”
“Không đâu!” Alexa lắc đầu. “Khi tao học ở đây, luôn cảm thấy mình không hợp với nơi này. Họ sinh ra đã có điều kiện hơn rồi tự cho rằng mình đặc quyền. Cả mày và tao đều khác biệt so với họ. Họ có mọi thứ được đưa tận miệng trên dĩa bạc. Mày và tao đã phải vất vả để đến đây. Mày phải tự hào về điều đó.”
Nhưng 'bọn nó' mà Alexa nói đến là thế hệ sau tôi, họ cũng học cùng tôi thì tôi có lý do gì để tự hào chứ?!


“Khi còn học ở đây, mày có bạn không?” Tôi hỏi.
khu tái định cư
“Hầu hết bạn của tao bây giờ là những người mà tao gặp từ năm hai trở đi. Những người năm đầu còn hơi thô lò. Nhưng khi đến năm hai, họ hiểu biết hơn.” Alexa thong thả nói, cùng với đó là một vòng khói cỏ tròn bay ra.
“Thế thì tốt. Tao không cần phải lo lắng về việc kết bạn năm đầu nữa.”
“Mà này, mày muốn làm gì thì làm, nhưng đừng bao giờ phải yêu một thằng con trai Stanford nhé! Những thằng đó rất...”
Alexa im lặng, nhìn tôi với ánh mắt nhằm nhò gắt gao. Chúng tôi đang đi dưới những hàng cọ xanh mát dọc theo Palm Drives nổi tiếng, trên đường đi đến bến tàu để Alexa trở về San Francisco.
“Tụi nó như thế nào?” Tôi hỏi.
“Tụi nó thật là giả dối. Người ta thường nói người Mỹ béo, phải không? Nhưng khi đến Stanford, mày đã thấy ai béo chưa? Không phải, đúng không? Stanford không giống như Mỹ, mày biết không? Người Stanford không phải là người thật. Họ sống trong thế giới ảo.”
Vào lúc đó, một chàng trai sinh viên mặc áo không tay, có cơ bụng 6 múi, đeo fitbit, cùng tai nghe chạy bộ lướt qua chúng tôi. Alexa nhìn về phía anh ta.
“Đó, mày thấy tao nói gì chưa? Quá lý tưởng. Quá hoàn hảo.”
Tôi nhìn theo hướng Alexa chỉ nhưng tôi không thấy điều cô nhìn thấy. Nhưng tôi cũng không biết phải nói gì. Tôi mới đến được một tuần, trong khi Alexa đã ở đây bốn năm. Tôi chỉ cúi đầu gật đầu. Đúng vậy, mọi thứ đều ảo thật. Tôi thật sự đang ở Stanford!
* * *

Khi viết đơn xin vào trường, tôi đã nói rằng tôi muốn tìm hiểu về viết lách, và nhà trường đã ghép tôi với Giáo sư Valerie Miner - một nhà văn nổi tiếng đã nhận nhiều giải thưởng với 14 cuốn sách của mình. Khi gặp gỡ lần đầu tiên, bà dẫn tôi đi ăn ở Faculty Club - một nhà hàng sang trọng trong trường chỉ dành cho giáo sư và khách của họ. Lúc đó, bà đã khuyên tôi không nên làm những điều ngớ ngẩn. Sinh viên quý đầu tiên phải học 20 tín chỉ, liệu tôi có điên không?
“Tôi đã thấy nhiều sinh viên tự tin khi bắt đầu ở đây, nghĩ rằng họ có thể đối phó với khối lượng công việc lớn ở Stanford, nhưng sau đó họ nhận ra rằng họ đã sai. Họ đã trải qua một khoảng thời gian khá khó khăn ở Stanford. Em phải nhớ rằng em vừa mới chuyển đến một quốc gia mới và phải dành thời gian để làm quen với môi trường mới.”
“Em sẽ thử xem.” Tôi tỏ ra cứng rắn. Dường như bà có tính cách nhạy cảm của một nhà văn. “Nếu em không thể đối phó, em sẽ rời khỏi lớp. Em có thể bỏ lớp cho đến cuối tuần thứ ba.”
“Nếu gặp khó khăn, em sẽ rút lui khỏi lớp, đúng không?”
“Dạ vâng!”
Các lớp tôi chọn bao gồm lớp bắt đầu về lập trình cơ bản, một lớp Toán cao cấp, mật mã học, Địa chất học, Khởi nghiệp và Phân tích văn học. Lớp Địa chất học thật là một trò đùa. Nếu có danh sách những lớp 'đặc biệt' ở các trường đại học Mỹ, lớp này chắc chắn sẽ đứng đầu. Chương trình học của nó chỉ bao gồm một chuyến đi dọc theo bờ biển California vào cuối tuần, tìm hiểu về các đường chia cắt đất động. Như một chuyến cắm trại. Ban ngày, chúng tôi thăm các bãi biển lớn, quan sát sư tử biển đấu nhau, và nghe giáo sư kể chuyện về thời sinh viên khi ông hút cần sa. Buổi tối, chúng tôi tụ tập bên lửa trại trong một khu vườn quốc gia nào đó. Tôi nghĩ rằng lớp này là một cách mà phòng Địa chất thu hút sinh viên. Trong số hơn bảy nghìn sinh viên của trường, chỉ có chưa đến mười sinh viên chọn chuyên ngành Địa chất. Khả năng gặp một sinh viên Địa chất trong trường chỉ là khoảng 0.13%, tương đương với khả năng bị sét đánh trong đời.
Lớp Mật mã học là lớp mà tôi thích nhất. Giáo sư dạy lớp này giống như một phù thủy Hogwarts, luôn mặc trang phục lòe loẹt. Bà đi đến đâu sàn nhà cũng tỏa sáng. Bà là một trong những người thông minh đến nỗi phải tự hỏi, tại sao người khác lại chậm hiểu như vậy. Lần đầu vào lớp, bà bắt đầu bằng tiếng Pháp - một trong ba ngôn ngữ mẹ đẻ của bà. Tại sao bà biết ba ngôn ngữ mẹ đẻ, tôi không biết. Sau này, khi tôi nói chuyện nhiều hơn với bà, tôi biết bà nói được gần mười loại ngôn ngữ. Nhìn thấy sự ngạc nhiên trên khuôn mặt của chúng tôi, bà cười và nói:
“Ôi, các bạn không biết nói tiếng Pháp à? Tôi nghĩ sinh viên Stanford thông minh như vậy chắc cũng biết nhiều thứ tiếng lắm chứ?”
Tôi học lớp Lập trình cơ bản vì sự tò mò. Một buổi ăn trưa, những người cùng ký túc xá đã nói vui: “Câu hỏi không phải là liệu em nên học lớp Lập trình hay không, mà là em sẽ học lớp Lập trình khi nào.” Theo thống kê của trường, 90% sinh viên sẽ học ít nhất một lớp lập trình trong bốn năm đại học. Đặt tại trái tim của Thung lũng Silicon, Stanford là một trong những nguồn cung cấp hàng đầu về kỹ sư máy tính cho các công ty công nghệ ở đây. Trường có một ngành Khoa học Máy tính mạnh mẽ với hàng nghìn sinh viên. Nói cách khác, trong tổng số 22,000 sinh viên, 5% sẽ học cùng lớp với nhau.
Lớp khó nhất đối với tôi là lớp Toán nâng cao: giải tích hàm nhiều biến. Mặc dù nhiều người nghĩ giải tích hàm nhiều biến không nên được gọi là Toán nâng cao, nhưng với tôi, sau khi rời xa ghế nhà trường một thời gian, kiến thức toán học của tôi đã suy giảm đáng kể. Tôi có thể chọn một lớp dễ hơn, nhưng tôi tự tin quá và không muốn lãng phí thời gian cho lớp dễ dàng hơn. Trước hoặc sau, tôi cũng phải học lớp này để đáp ứng yêu cầu về Toán của trường, vì vậy tôi nghĩ tôi nên học ngay cho xong. Sau buổi học đầu tiên, giáo sư gửi email yêu cầu tôi gặp ông. Nhận được email, tôi lo lắng. Bao nhiêu kỷ niệm về những cuộc họp phụ huynh hồi cấp ba ùa về. Mới chỉ là ngày đầu tiên mà tôi đã làm sai điều gì rồi chứ?
ghế ngồi“Tôi đã xem qua hồ sơ của em…” Thầy giáo nói. “Tôi không nghĩ em đủ kiến thức cơ bản để tham gia lớp này.”
“Dạ, em hiểu ạ!” Tôi nhìn qua cửa sổ phòng thầy, thấy một nhóm du khách Trung Quốc đang chụp ảnh. Tại sao thầy lại nói về điều này với em? Tôi không hiểu sẽ diễn biến ra sao nữa.
“Em chắc chắn muốn tham gia lớp này chứ?”
“Dĩ nhiên ạ! Nếu không muốn học thì em đã đăng ký làm gì?”
“Ha ha…” Thầy cười vui. “Tôi muốn em biết rằng, nếu gặp khó khăn trong môn học, em hoàn toàn có thể hỏi tôi hoặc trợ giảng trong lớp.”
“Thật ạ?” Tôi tỏ ra ngạc nhiên. Tôi nghĩ giáo viên ở các trường lớn thường lạnh lùng lắm, không có thời gian để quan tâm đến sinh viên như thế.'
“Tôi mong muốn tạo ra một môi trường học tập tốt nhất cho các sinh viên trong lớp.”
“Thầy thật tuyệt vời. Em biết ơn thầy.”
Rời khỏi phòng thầy, tôi bắt gặp một chàng trai nhìn tôi mỉm cười. Đôi mắt anh sáng xanh, mái tóc xoăn tự nhiên và làn da rám nắng. Nhìn anh, tôi nghĩ ngay đến những chàng trai trên bãi biển Địa Trung Hải. Nhưng anh ấy mặc sơ mi trắng, đeo kính cận và cầm trên tay một xấp giấy tờ dày cộm. Khi tôi quay lại nhìn, anh chỉ cười và biến mất.
* * *
Lịch học ở Stanford rất khó khăn, một phần là do cách trường sắp xếp lịch học. Ở Việt Nam, sinh viên thường học theo kỳ: một năm hai kỳ, mỗi kỳ khoảng bốn tháng. Trong khi ở Mỹ, chỉ khoảng 70% các trường đại học học theo kỳ, phần còn lại học theo quý. Tất nhiên, có một số trường có hệ thống riêng của họ. Ví dụ, Colorado College có hệ thống block plan, nghĩa là họ chỉ học một môn trong ba tuần rưỡi rồi chuyển sang môn học mới.
Stanford tổ chức học theo quý, mỗi năm học gồm ba quý: thu, đông và xuân, mỗi quý kéo dài mười một tuần. Lúc mới biết về hệ thống này, tôi cảm thấy rất căng thẳng. Học theo quý có nhiều kỳ thi. Mỗi quý ngắn bằng hai phần ba của một kỳ thông thường nhưng vẫn phải thi giữa quý, thi cuối quý, nên lịch học luôn kéo dài với những kỳ thi. Nhiều lớp còn thi giữa quý lần thứ hai, thậm chí thứ ba. Kỳ thi giữa quý có thể bắt đầu từ tuần thứ ba và kéo dài đến tuần thứ mười, rồi sau đó là kỳ thi cuối quý ở tuần thứ mười một. Đặc biệt, không có thời gian nghỉ để ôn thi cho kỳ thi giữa quý. Hầu hết các lớp tổ chức thi vào buổi tối, vẫn đi học vào ban ngày và có bài tập về nhà như mọi khi.
Vì vậy, chúng tôi mới bước vào trường đã phải đối mặt với kỳ thi. Các lớp Hóa hữu cơ thi giữa quý từ tuần thứ ba, nghĩa là từ khi mới bước vào ký túc xá đã có người chạy ra từ trong phòng tắm với khuôn mặt đỏ hoe. Mọi người gọi kỳ thi giữa kỳ môn Hóa hữu cơ là một cuộc thảm sát tập thể. Điểm trung bình của môn này chỉ là 31/100. Những học sinh đã quen với điểm A+ suốt thời cấp ba bỗng dưng nhận được điểm D trong kỳ thi giữa kỳ đầu tiên ở Stanford. Nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng của kỳ thi giữa kỳ môn Hóa, tự nhiên tôi cảm thấy lo lắng cho kỳ thi giữa kỳ của sáu lớp mà tôi đang học.
Thời gian tiếp nhận sinh viênGiờ làm việc“Anh không cần phải ở lại giúp em. Em đã hiểu bài, chỉ cần viết nốt là em sẽ tự đi về.”
Nghe tiếng nói, anh đột ngột nhìn lên và nhìn thẳng vào tôi.
“Ồ, em vẫn ở đây à?”
Tôi nhìn anh một cách trì trệ. Khi cần, lại thấy không có đâu hết!
“Không, em không ở đây nữa”, tôi nói. “Nếu em còn ở đây, anh sẽ nghe thấy giọng em hay thấy em chứ, sao anh phải hỏi thế?”
“Ôi trời ơi, con gái Việt Nam ai cũng mạnh mẽ như em à?”
“Làm sao anh biết em đến từ Việt Nam?”
“Anh đoán thôi.”
“Sao anh biết em đến từ Việt Nam vậy?”
“Đó chỉ là một màn kỹ thuật. Em sẽ hiểu khi tốt nghiệp đại học.”
Tôi lắc đầu, thở dài.
“Anh từ nơi nào đến?”
“Em đoán thử xem.”
“Ở Pháp.”
“Làm sao em biết?”
“Khi nào học xong tiến sĩ anh sẽ hiểu.”
“Ồ, thật là muộn rồi, em nên đi ngủ sớm để mai thi tốt nhé.”
“Khi nào làm xong bài, em sẽ về.”
“Em thật là một con ong chăm chỉ,” anh vừa nói vừa tủm tỉm cười như đang chọc phá tôi vậy.
“Thầy giáo nói em thiếu kiến thức căn bản cho lớp này, vì thế khả năng làm bài của em không cao lắm. Nhưng em không muốn có điểm kém.”
Nói xong, tự nhiên tôi cảm thấy mình như một tấm bản đồ châu Á.
“Nghe này…” Oliver đứng dậy, đi tới và quỳ xuống trước bàn tôi để nhìn thẳng vào mắt tôi. “Em sẽ vượt qua mọi thử thách. Em hiểu bài rất nhanh, nên anh tin rằng ngày mai em sẽ làm bài tốt.”
Buổi sáng hôm sau, trước khi đi thi, tôi nhận được email của Oliver chúc may mắn. Tôi nhớ lại đôi mắt xanh thăm thẳm nhìn tôi và nhận ra rằng anh chính là người đã nhìn tôi toe toét cười ở cửa văn phòng thầy dạy Toán.
* * *
“Mày biết không, tao mới vừa đâm xe đạp vào một ông thầy giáo đã được trao giải Nobel. Lúc đấy, ông ta cầu nguyện trời không nhận ra mặt tao.”
Hoặc:
“Mày ơi, Mark Zuckerberg đang ở tầng hầm Gates đấy. À, nhầm rồi! Hóa ra chỉ là một thằng mê sách tóc xoăn, mặc áo khoác có mũ thôi.”
Tôi cũng nghe được vài câu chuyện tương tự như vậy. Một lần đi ăn, tôi và bạn đứng xếp hàng ngay sau một người đàn ông khổng lồ. Ông cao tới hai mét và nặng gấp ba lần tôi. Tóc ông cắt ngắn sát da đầu, nên nhìn qua, tôi tưởng ông đầu trọc luôn. Chúng tôi đang đứng chờ để lấy khoai lang chiên. Khoai lang chiên không còn nhiều, và tôi không biết dạ dày ông to bao nhiêu, nên cứ lo lắng không dám ăn quá nhiều.
Có lẽ ông cảm nhận được sự bồn chồn của tôi, ông quay lại bắt đầu nói chuyện.
“Hôm nay có nhiều người đến ăn nhỉ,” ông nói.
“Hy vọng lúc đến lượt mình, khoai lang chiên vẫn còn đấy”, tôi nhanh nhẩu nói.
“Hy vọng thế.” Ông cười to, vỗ vỗ bụng. “Hai cháu là sinh viên năm mấy rồi?”
“Chúng tôi là năm đầu”, Raine - cô bạn của tôi - trả lời. (Tôi quen Raine qua một cô bé tôi gặp ở Abu Dhabi khi đến thăm một trường đại học ở đó. Thế giới thật là nhỏ bé như thế đấy!)
“Còn bác thì sao, bác học đến năm mấy ạ?” Tôi hỏi.
“Bác học mãi không tận, là sinh viên năm 30+. Cả đời bác chỉ biết học thôi, nhưng thỉnh thoảng bác cũng đi dạy.”
“Bác dạy môn gì ạ?”
“Văn học. Hai cháu tên là gì?”
“Clark, Raine Clark”, Raine tự tin giới thiệu tên mình như James Bond. Tôi cũng muốn làm nhưng nhận ra rằng tên Việt Nam của mình, “Nguyễn, Huyền Nguyễn”, nói theo kiểu này không thật sự ấn tượng.
“Bác có thể gọi cháu là Chip.”
“Chip gì đấy?” Bác hỏi. “Chipotle, Chip and Dale hay Chipmunk.”
Tôi nghĩ trong lòng, nếu mỗi lần ai đùa về tên của tôi tôi được một đồng xu thì giờ này tôi đã đủ tiền mua cả quán bán khoai lang chiên này rồi.
“Còn bác thì sao? Bác tên là gì?”
“Adam.”
“Adam gì vậy?”
“Johnson, Adam Johnson.”
Cái tên này quen quen thật đấy.
“Ôi trời! Cháu hỏi dại không nhưng có khi bác là tác giả cuốn The Orphan Master’s Son đúng không?”
Ông “ồ” lên rất hứng thú: “Chính xác!”
What IWish IKmớiWkhi tôiW
Ở đây không chỉ có giảng viên mới có hồ sơ đáng phục như thế, mà cả sinh viên đều là thiên tài ẩn dật. Vì ở đây mọi người đều có thành tích, nên không ai khoe thành tích của mình bao giờ. Tôi phát hiện ra rằng bạn bè của tôi có thành tích này nọ đều là do tình cờ. Ari là một ví dụ.
Ari là anh chàng gốc Ấn Độ học chung với tôi từ năm đầu. Tôi quen Ari qua Raine. Tôi, Raine và Ari đều học lớp Lập trình căn bản nên buổi tối thỉnh thoảng chúng tôi ngồi lại làm bài cùng nhau. Một tối, tôi đang trêu Ari về việc cậu chỉ ăn phần bên trong của pizza và bỏ toàn bộ phần “như công chúa” thì Raine thở dài:
“Chip này, sao mày lại thường xuyên trêu Ari thế? Mày có biết là Ari có bao nhiêu fan cuồng không?”
“Nó nổi tiếng à?” Tôi hỏi.
“Không!” Ari lắc đầu ngao ngán. “Điều kiện ternary trong Java viết như thế nào nhỉ?”
Anh chàng cố gắng đổi chủ đề nhưng đã quá muộn.
“Để tao google!” Tôi cười vui vẻ. Ari vồ lấy laptop của tôi nhưng mọi sự chống đối đều vô ích. Trên google hiện ra trang Wikipedia về cậu. Ari là một trong những đại kiện tướng cờ vua xuất sắc khi mới chập chững bước vào tuổi mười ba, là đại kiện tướng cờ vua trẻ thứ hai trên thế giới. Wikipedia gọi cậu là “thần đồng”. Hiện cậu là một trong một trăm tay cờ vua xuất sắc nhất hành tinh.
“Trời ơi! Thế có nghĩa là mày siêu thông minh.” Tôi nhìn Ari với ánh mắt kinh ngạc. “Vậy tại sao bài đơn giản như thế này mày lại làm lâu vậy?”
Cả Ari và Raine nhìn tôi với ánh mắt tràn đầy ngạc nhiên.
“Kệ tao!” Ari tự tin tuyên bố. “Bạn bè với tao cũng được.”
Mấy hôm sau, Ari hẹn tôi đi ăn trưa. Cậu tỏ ra rất bí ẩn.
“Tối qua tao lên mạng đọc được blog của một tác giả rất thú vị đấy mày ạ.”
“Tác giả đó như thế nào?”
“Nó là nhà văn đấy! Mang ba lô và đi khắp thế giới ba năm, đã xuất bản hai cuốn tự truyện. Phong cách viết của người này rất hài hước, cứ như mày vậy. Mày đoán xem người đó là ai?”
Tôi đang ăn bát ngũ cốc, suýt chết sặc. Tôi quay mắt nhìn quanh và thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra rằng nhóm người ở bàn gần nhất đang chăm chú giải các câu đố vui trên tờ báo châm biếm của trường. Chúng tôi ngồi ở bàn ngoài trời của nhà ăn Flomo. Tôi thường hẹn bạn bè ăn ở đây vì ba lý do. Thứ nhất, đồ ăn ở đây được cho là ngon nhất trường. Thứ hai, nơi đây rất đẹp. Có mấy bàn ăn gỗ nằm dưới hàng cây hoa hồng và được che dù màu mận đỏ. Và thứ ba, quan trọng nhất, nó gần ký túc xá của tôi. Thật là kỳ lạ! Trước đây, tôi đi qua châu Phi mà không thấy xa, nhưng giờ từ ký túc xá của tôi đến ký túc xá của Ari mất chưa đến năm phút đi bộ mà tôi đã kêu như sắp chết.
“Không có ai nghe lén cuộc trò chuyện của tao với mày đâu. Nhưng mà tao với mày cũng thú vị lắm, người ta sẽ quan tâm đấy”, Ari nói.
Tôi không biết phải nói gì. Tôi cũng không hiểu cảm xúc của mình lúc đó là gì. Tôi vẫn chưa nói với bất kỳ ai ở Stanford về chuyến đi hoặc cuốn sách của mình. Đối với tôi, Stanford là cơ hội để bắt đầu lại từ đầu. Tôi đã cố gắng nhiều để bỏ lại quá khứ sau lưng, quên đi cả những điều ngu ngốc và những hành động gần như ngu ngốc mà tôi đã làm trong suốt năm năm qua.
“Làm sao mày biết?”
“Tại mày google tên tao nên tao cũng google tên mày.”
“Có ai khác biết không nhỉ?”
“Tớ chưa kể cho ai nghe cả, trừ khi có ai khác cũng tìm kiếm thông tin về cậu…” Ari nói nhưng bình tĩnh. “Nhưng tớ nghĩ không ai quan tâm tới cậu đến như vậy đâu.”
“Hứa với tớ là không nói với ai nhé?”
“Tại sao vậy?”
“Đồng ý đi!”
“Hứa vậy.”
“Raine cũng phải hứa nhé!”
“Hứa.”
Tôi thở dài. “Ari, cảm ơn cậu.”
“Tại sao cậu không muốn người ta biết rằng cậu là tác giả nổi tiếng ở Việt Nam?”
“Vì tao không có danh tiếng.”
“Tên của mày hiện có hơn 1000 kết quả tìm kiếm trên Google.”
Tôi đầu hàng với cậu. Ý nghĩa của danh tiếng đối với cậu thật đơn giản phải không?
“Tại sao mày không muốn mọi người biết mày là một trong những kỳ thủ cờ vua xuất sắc nhất trên thế giới?”
“Tao đến đây để bắt đầu lại từ đầu.” Ari nhún vai. “Một khi mọi người biết tao là một kỳ thủ cờ vua hàng đầu, họ sẽ luôn nhớ về tao với tư cách một kỳ thủ cờ vua, mong chờ điều gì đó từ tao, mọi thứ khác tao làm sẽ bị phê phán theo góc độ của cờ vua đó.”
Tôi gật đầu.
“Ừ, bắt đầu lại từ đầu. Tao đã chán ngấy với việc mọi người luôn nhắc tới tao là một cô bé điên đi. Tao muốn có cuộc sống của một sinh viên bình thường chứ không phải là thế này.”
“Mày? Bình thường à?” Ari nhìn tôi với ánh mắt kinh ngạc. “Mày sẽ không có cuộc sống bình thường đâu. Trước khi biết về quá khứ của mày, tao đã nhận ra mày là một thằng điên rồi.”
Tôi đưa tay ra và Ari fist-bump với tôi, cười lớn. Tôi giữ một bí mật của Ari và Ari cũng giữ một bí mật của tôi. Không ai nói ra nhưng chúng tôi đều biết rằng chúng ta sẽ trở thành bạn thân nhất ở đây.
Mytour
