
Huyết áp là lực tác động của máu lên thành mạch khi nó lưu thông trong cơ thể. Đây là một trong những chỉ số quan trọng giúp xác định tình trạng sức khỏe của một người. Khi tim co bóp, huyết áp dao động từ mức cao nhất (áp lực tâm thu) đến mức thấp nhất (áp lực tâm trương). Huyết áp trung bình, do sự kết hợp của lực bơm từ tim và sức cản của mạch máu, giảm dần khi máu di chuyển ra xa khỏi tim. Sự giảm này diễn ra nhanh chóng nhất ở các động mạch nhỏ và tiểu động mạch, và tiếp tục giảm khi máu đi qua các mao mạch và cuối cùng đạt mức thấp nhất trong tĩnh mạch trở về tim. Các yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp bao gồm trọng lực, hoạt động của các van trong tĩnh mạch, nhịp thở và sự co cơ...
Khi nói về 'huyết áp,' người ta thường đề cập đến áp lực đo được ở cánh tay, ở vị trí bên trong khuỷu tay (động mạch cánh tay). Huyết áp được diễn tả bằng một tỷ lệ, trong đó tử số là áp lực tâm thu và mẫu số là áp lực tâm trương, với đơn vị đo là milimet thủy ngân (mmHg), chẳng hạn như 140/90.
Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ dự đoán chuỗi thời gian qua mạng nơ-ron nhân tạo, chúng ta có khả năng dự đoán huyết áp của bệnh nhân trong những ngày sắp tới dựa trên dữ liệu huyết áp từ quá khứ.
Sự biến động của huyết áp trong chu kỳ tim
Tim bơm máu vào động mạch theo từng nhịp, dẫn đến sự xuất hiện của huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.
- Huyết áp động mạch đạt mức cao nhất khi tim co bóp trong giai đoạn tâm thất thu. Áp suất tại thời điểm này được gọi là huyết áp tối đa hay huyết áp tâm thu. Huyết áp tâm thu có thể dao động tùy theo độ tuổi, thường nằm trong khoảng từ 90-140mmHg.
- Trong giai đoạn tâm thất dãn, huyết áp đạt mức thấp nhất, còn được gọi là huyết áp tâm trương. Huyết áp tâm trương có thể dao động trong khoảng từ 50-90mmHg.
Huyết áp của con người thường được đo ở cánh tay, còn được gọi là huyết áp động mạch. Đối với các loài như trâu, bò, ngựa, huyết áp được đo ở đuôi của chúng.
Dự đoán huyết áp
Dự đoán huyết áp là quá trình dự đoán các giá trị huyết áp của một người trong tương lai dựa trên các giá trị huyết áp trong quá khứ. Khi thực hiện đo huyết áp thường xuyên, các giá trị này sẽ hình thành một chuỗi số liệu gọi là chuỗi thời gian. Các phương pháp xác suất thống kê thường được sử dụng để mô hình hóa chuỗi thời gian này. Hiện tại, công nghệ mạng nơ-ron nhân tạo là công nghệ phổ biến nhất để dự đoán chuỗi thời gian.
Thiết bị đo huyết áp
Những thiết bị đo huyết áp phổ biến bao gồm: huyết áp kế thủy ngân, huyết áp kế đồng hồ và huyết áp kế điện tử.
Các yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp
- Nhịp tim và sức co bóp của tim: Khi tim đập nhanh và mạnh, huyết áp sẽ tăng. Ngược lại, khi tim đập chậm và sức co bóp giảm, huyết áp sẽ giảm theo.
- Sức cản của mạch máu: Nếu lòng mạch bị thu hẹp do xơ vữa, huyết áp sẽ tăng. Tuổi cao và thành mạch kém đàn hồi cũng góp phần gây ra tăng huyết áp.
- Khối lượng máu: Mất máu làm giảm khối lượng máu, từ đó làm huyết áp giảm. Ăn nhiều muối làm tăng áp suất thẩm thấu và thể tích máu, có thể dẫn đến cao huyết áp.
- Độ quánh của máu: Độ quánh của máu cũng ảnh hưởng đến huyết áp.
| Loại mạch
máu |
Động
mạch chủ |
Động
mạch lớn |
Tiểu động
mạch |
Mao
mạch |
Tiểu
tĩnh mạch |
Tĩnh mạch
chủ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Huyết áp
(mmHg) |
120-140 | 110-125 | 40-60 | 20-40 | 10-15 | Gần bằng 0 |
Trong hệ thống mạch máu, huyết áp giảm dần từ động mạch đến mao mạch và tĩnh mạch. Sự giảm huyết áp này là kết quả của ma sát giữa máu với thành mạch và ma sát giữa các phần tử máu khi máu di chuyển trong hệ thống mạch.
Quản lý huyết áp
Bất kỳ yếu tố nào làm thay đổi nhịp tim, thể tích máu, hoặc tiết diện của mạch đều có thể ảnh hưởng đến huyết áp.
Huyết áp có thể biến động tạm thời khi bạn thực hiện công việc nặng, tập luyện thể thao, bị kích thích mạnh, hoặc khi nồng độ oxy trong không khí thấp,...
Một số chất có ảnh hưởng đến huyết áp bao gồm:
- Histamin: Được sản xuất bởi các mô trong cơ thể. Histamin làm tăng tính thấm của mao mạch, dẫn đến giãn mạch và giảm huyết áp.
- Ion Ca: Nồng độ cao của ion canxi trong máu khiến tim đập nhanh hơn và gây co mạch.
- NO: Được sản xuất bởi các tế bào nội mạc, NO là chất chính gây giãn mạch và giảm huyết áp. (Tác dụng của NO được ba nhà khoa học Mỹ: Robert Furchgott, Louis Ignarro và Ferid Murad phát hiện và nghiên cứu, và họ đã nhận giải Nobel năm 1998).
- Endothelin: Là một peptide mạnh gây co mạch, được biết đến qua nghiên cứu độc lập của Masashi Yanagisawa tại đại học Tsukuba, Nhật Bản.
Huyết áp và trọng lực

- Trọng lực ảnh hưởng lớn đến huyết áp. Khi đứng, đầu bạn cao hơn ngực khoảng 0,35 m, làm huyết áp ở não thấp hơn khoảng 27 mmHg so với gần tim. Nếu huyết áp não quá thấp, có thể dẫn đến ngất. Ngất làm cơ thể nằm ngang với tim, giúp tăng cường lưu lượng máu lên não.
- Đối với các động vật có cổ dài, như hươu cao cổ, huyết áp tâm thu cần trên 250 mm Hg gần tim. Khi cúi đầu uống nước, các van một chiều và các xoang điều hòa giúp giảm cung lượng tim, bảo vệ não khỏi huyết áp cao.
- Trọng lực cũng ảnh hưởng đến dòng máu trong tĩnh mạch, đặc biệt là ở chân. Mặc dù huyết áp tĩnh mạch tương đối thấp, nhưng các cơ chế hỗ trợ máu trở về tim bao gồm: - Sự co bóp nhịp nhàng của cơ trơn trong tiểu động mạch và tĩnh mạch giúp lưu thông máu. - Sự co bóp của cơ vân khi vận động giúp đẩy máu qua tĩnh mạch về tim. Điều này giải thích tại sao việc đi lại thường xuyên trong chuyến bay dài giúp ngăn ngừa hình thành cục máu đông. - Sự thay đổi áp suất trong lồng ngực khi hít vào làm giãn tĩnh mạch chủ và các tĩnh mạch lớn gần tim, giúp đẩy máu trở về tim.
Tài nguyên liên kết
- Hiệp hội Huyết áp Anh (UK)
- Hiệp hội Cao huyết áp Anh: danh sách các máy đo huyết áp đã được xác thực Lưu trữ 2009-01-29 tại Wayback Machine
- Phòng khám Cao huyết áp Phổi Cleveland
- Hiệp hội Tim mạch Mỹ [1]
- Giám sát huyết áp
- Kiểm soát huyết áp
