In lụa là một phương pháp in ấn sử dụng một bản lưới làm từ tơ lụa. Thuật ngữ 'in lụa' sau này đã mở rộng để ám chỉ các phương pháp in sử dụng các loại vật liệu khác như vải bông, sợi hóa học, hoặc lưới kim loại.

Kỹ thuật in lụa thực hiện bằng cách chỉ cho phép mực in thấm qua một phần của lưới in, tạo ra hình ảnh trên vật liệu in. Các mắt lưới không cần thiết được bịt kín bởi hóa chất đặc biệt trước khi in.
Lịch sử
Kỹ thuật này đã được Châu Âu áp dụng từ năm 1925 để in trên giấy, bìa, thủy tinh, kim loại, vải da giả...
Hơn 1000 năm trước đây, người ta đã phát minh ra kỹ thuật sử dụng sợi tơ kéo căng trên khung gỗ, và sử dụng keo hồ để sao chép hình ảnh lên nhiều vật liệu khác nhau bằng cách phết mực qua các lỗ tròn của khuôn tô.
Nghiên cứu về việc sử dụng vải tơ làm lưới in bắt đầu từ Pháp và Đức vào khoảng những năm 1870. Samuel Simon đã phát minh quy trình làm lưới bằng sợi tơ tại Anh vào năm 1907. Năm 1914, tại San Francisco, California, John Pilsworth phát triển phương pháp in lưới đa màu.
Phân loại kỹ thuật in lụa
Có thể phân loại kỹ thuật in lụa theo cách sử dụng khuôn in như sau:
- In lụa trên bàn in thủ công
- In lụa trên bàn in có cơ khí hóa một số thao tác
- In lụa trên máy in tự động
Theo hình dạng của khuôn in, có thể phân thành hai loại:
- In sử dụng khuôn lưới phẳng
- In sử dụng khuôn lưới tròn kiểu thùng quay
Theo phương pháp in, có các tên gọi sau:
- In trực tiếp: là phương pháp in trên sản phẩm có màu nền trắng hoặc màu nhạt, không ảnh hưởng đến màu in
- In phá gắn: là phương pháp in trên sản phẩm có màu nền, yêu cầu mực in phá được màu nền để gắn màu in lên sản phẩm
- In dự phòng: là phương pháp in trên sản phẩm có màu, không thể sử dụng phương pháp in phá gắn
Kỹ thuật

Dù là in thủ công, bán thủ công hay thực hiện bằng máy, kỹ thuật in lụa đều bao gồm các công đoạn chính như sau: chuẩn bị khuôn in; chế tạo bàn in và dao gạt; pha chế chất tạo màu và hồ in; và tiến hành in ấn.
Làm khuôn in
Khuôn in có thể được làm từ gỗ hoặc kim loại, trên đó căng tấm lưới có các lỗ để mực in có thể đi qua trong quá trình in. Quá trình tạo lỗ trống này được gọi là 'chuyển hình ảnh cần in' lên khuôn lưới. Ban đầu, thợ in thường sử dụng phương pháp trực tiếp như vẽ trên lớp nến trắng, đất sét hoặc dầu bóng, nhưng ngày nay họ thường áp dụng phương pháp gián tiếp hơn như vẽ trên giấy nến hoặc sử dụng phương pháp cảm quang.
- Sử dụng bút gỗ hoặc tre khắc hoa văn trên tấm lưới đã nhúng vào dung môi nến nóng chảy và làm nguội để tạo lỗ trống cho lưới in.
- Sử dụng bút gỗ, tre hoặc kim nhọn để khắc, đục lỗ theo hình dạng hoa văn trên tấm lưới đã nhúng vào hồ đất sét đã làm khô để tạo lỗ trống cho lưới in.
- Sử dụng bút lông để vẽ hình dạng hoa văn trên tấm lưới đã quét một lớp dầu bóng và làm khô. Quá trình này sẽ tạo ra những lỗ trống cần thiết trên bề mặt lưới.
- Sử dụng dao 'khắc' hình trên giấy nến để tạo những khoảng trống cần thiết trên lưới in. Sau đó, úp mặt giấy nến đã khắc lên lưới và dùng bản ủi làm nóng chảy nến. Những chỗ không cần thiết sẽ bị nến bít lại sau khi để nguội.
- Ngày nay, phương pháp cảm quang được coi là tiến bộ trong chế tạo bản in. Phương pháp này cho phép sao chép các tác phẩm nghệ thuật với độ chân thực cao về đường nét.
Họa sĩ thiết kế các mẫu in, hoặc sử dụng thiết kế từ máy tính hoặc tách màu từ tấm ảnh trên máy tính để in ra trên giấy can. Mỗi màu được tách thành từng phim tương ứng, sau đó phim được chuyển lên tấm lưới. Quá trình này gọi là chụp bản.
Quá trình chụp bản thực hiện trong buồng tối, phim được đặt lên lưới in cùng chiều với mẫu in thật, sau đó chiếu ánh sáng từ đèn. Ánh sáng sẽ đi qua phim và chiếu lên lưới. Chỉ những chỗ không bị mực bao phủ sẽ đóng rắn dưới tác dụng của ánh sáng. Khi rửa bản in, những chỗ không bị chiếu sáng sẽ bị rửa trôi tạo thành những lỗ trống, mực in sẽ lọt qua những lỗ này và in lên sản phẩm cần in.
Lựa chọn lưới in quyết định đến chất lượng in ấn, đặc biệt là độ mịn và độ nét của hình ảnh. Các thông số quan trọng của lưới bao gồm độ mịn (ký hiệu N(chỉ số) hay T(chỉ số)) và tỷ lệ đường kính sợi lưới so với chiều rộng mắt lưới. Ví dụ, lưới có ký hiệu T40 hoặc N40 có nghĩa là lưới này có 40 sợi/cm và 1600 lỗ/cm². Khi in trên giấy, thông thường sử dụng lưới có ký hiệu T90 - T140; khi in bao bì PVC: T120-T180; khi in vải sử dụng lưới T30-T100...
Các dung dịch cảm quang phổ biến được sử dụng trong in lưới là dung dịch keo Crom-Gelatin hoặc dung dịch Crom-PVA:
- Dung dịch Keo Crom-Gelatin được tạo thành từ amoni đicromat hoặc kali đicromat với nồng độ 3,5%, pha trộn với keo gelatin nồng độ 20% theo tỷ lệ 1:1.
- Dung dịch Crom-PVA được tạo thành từ polyvinyl acetate 12%, pha trộn với dung dịch chứa amoni đicromat hoặc kali đicromat, nước và C2H5OH:96% theo tỷ lệ 1:1.
Những dung dịch này sau khi chế tạo cần được bảo quản ở nơi có điều kiện phù hợp vì chúng nhạy sáng.
Bàn in và dao gạt
Bàn in được làm từ kim loại hoặc gỗ, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nét in chính xác, đều và đạt độ nét cao. Yêu cầu chính đối với bàn in là phẳng, chắc và có độ đàn hồi để tiếp xúc đều với sản phẩm in. Bàn in có thể được đặt ngang hoặc nghiêng tùy vào từng trường hợp để người thợ thao tác dễ dàng hơn.
Dao gạt hồ in là công cụ dùng để phết mực màu lên lưới in, giúp mực thấm qua và chuyển mực lên sản phẩm in. Được làm từ bọt biển, con lăn cao su hoặc đơn giản là miếng gạt cao su theo thuật ngữ của thợ.
Chất màu và hồ in

Các chất nhuộm trong in lụa là các hợp chất có khả năng bắt màu và giữ màu trên vật liệu bằng các liên kết hóa học hoặc vật lý.
In lụa thường sử dụng các chất tạo màu hữu cơ. Chúng có thể chia thành hai loại tan và không tan trong nước.
- Chất nhuộm màu tan trong nước bao gồm: thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuộm base-cation...
- Chất nhuộm màu không tan trong nước bao gồm: thuốc nhuộm hoàn nguyên không tan, thuốc nhuộm lưu huỳnh, pigmen, thuốc nhuộm azo không tan...
Hồ in sau khi kết hợp với chất nhuộm được gọi là mực in, sau khi in sẽ được áp dụng lên sản phẩm cần in. Vì vậy, tùy thuộc vào loại vật liệu cần in, phải sử dụng các công thức pha chế khác nhau. Các nhóm vật liệu in bao gồm: xenlulo, tơ tằm, len; sợi hóa học và xơ tổng hợp; nhựa; gốm sứ; kim loại; thủy tinh... Dù in trên vật liệu nào, hồ in phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Phải đồng nhất về thành phần và lượng màu để đạt được màu sắc mong muốn
- Độ đặc, độ nhớt và độ dính phải được bảo đảm để mực dính vào vật liệu in và tạo ra hoa tiết sắc nét
- Độ bền của hồ phải đảm bảo khi bảo quản
- Một số loại hồ in cho vải phải có tính dễ trương nở khi hấp để 'nhả' chất nhuộm cho vải, và
- Không được chứa các chất có thể làm hại lưới in
In ấn
Sau khi định vị khuôn in lên bàn in, vật liệu cần in được đặt dưới lưới in. Đưa mực in phù hợp vào khuôn in theo lượng cần thiết, sau đó sử dụng dao gạt để mực thấm qua lưới và áp vào sản phẩm in. Điều chỉnh lượng mực in, tốc độ gạt để đạt hiệu quả tốt nhất.
Sau khi in, mực in chỉ được cố định tạm thời cơ học trên vật liệu nên cần có quy trình xử lý để gắn màu cố định cho hình in. Tùy theo loại mực in và vật liệu in, có các phương pháp xử lý khác nhau như: sấy, hấp, gia nhiệt khô, hiện màu ướt (trong dung dịch axit loãng), hoặc hiện màu bằng phương pháp ngâm ép, cuộn ủ lạnh...
Một số phương pháp in đặc biệt
Có thể sử dụng các loại mực in khác nhau hoặc nguyên liệu đặc biệt để tạo ra các hiệu ứng khác nhau như in chuyển, in nổi, in bắn cắm lông...
- In chuyển: còn được gọi là in nhiệt, in nhiệt khô, in nhiệt chuyển, in thăng hoa. Nguyên lý chung của phương pháp này là không in trực tiếp lên sản phẩm mà in qua một lớp giấy nền, sau đó áp nhiệt để thuốc mực từ giấy nền chuyển sang vật liệu in.
- In nổi: Trong mực in, có các chất làm nổi để tạo ra hình dạng nổi. Sau khi in và sấy, sản phẩm được hấp ở nhiệt độ 130-150 °C bằng hơi nước bão hòa. Mực sẽ biến thành lớp màng xốp, tạo hình nổi trên sản phẩm.
- In bắn cắm lông: Lông nhiều màu với chiều dài 0,3mm được đựng trong các hộp riêng. Lông được bắn qua các lỗ trên lưới in và dính vào vải đã được quét nhựa bán đa tụ, quá trình này diễn ra trong điện trường 6000V mà không cần dao gạt. Kết quả là các mảnh vải có nhiều màu sắc từ lông mịn như tuyết nhung và nổi lên trên bề mặt vải.
Văn chương
- Парыгин А.Б. Искусство шелкографии. ХХ век (история, феноменология. техники, имена). — СПб, 2010. — 304 с. (Nga).
- Bigeleisen J. I. Screen Printing: A Contemporary Guide. – New-York, 1972. (Anh).
- Caza M. La Sérigraphie – Genève: Bonvent, 1973. (Pháp).
Ghi chú
- In trên bản thạch
- In phun
- In offset
- In màu
- In laser
Liên kết bên ngoài
- Kỹ thuật in lụa Lưu trữ 2007-09-26 trên Wayback Machine của Quang Bạch, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001.
- Lịch sử của lụa Lưu trữ 2013-03-02 trên Wayback Machine Искусство шелкографии. ХХ век. (nga).
- Who’s Who in Screenprinting Lưu trữ 2012-11-08 trên Wayback Machine
- Máy in lưới tại Từ điển bách khoa Việt Nam
