
Hệ thống camera an ninh đã ghi lại rõ gương mặt không che đậy của hắn cũng như hành động của hắn khi nắm giữ một khẩu súng hướng về nhân viên thu ngân. Cảnh sát phát sóng hình ảnh này trên tin tức địa phương vào lúc 11 giờ trưa. Manh mối được tìm thấy chỉ trong vài phút và chỉ sau nửa đêm, cảnh sát đã đến bắt kẻ tình nghi tại nhà của hắn ở McKeesport.
Nghi can được xác định là McArthur Wheeler, hắn nói với vẻ không thể tin được “Nhưng tôi đã bôi nước hoa quả lên mặt rồi mà.”
Wheeler nói với cảnh sát rằng hắn đã sử dụng nước chanh để che giấu danh tính, nhưng các nhân viên điều tra kết luận rằng hắn không phải là người bị hoang tưởng hay sử dụng ma túy - tất cả chỉ là một sự nhầm lẫn không thể tin nổi.
Theo Wheeler, nước chanh được sử dụng như một loại mực vô hình khác. Hắn suy luận rằng nước chanh sẽ khiến máy quay không thể nhận dạng được khuôn mặt của hắn. Hắn đã thử nghiệm bằng cách xoa nước chanh lên mặt và chụp một bức ảnh tự sướng với camera Polaroid trước khi thực hiện vụ cướp. Thật ra, không có một khuôn mặt nào xuất hiện trong bức ảnh! (Cảnh sát không bao giờ hiểu được điều này. Có thể Wheeler không chỉ là mơ hồ trong việc làm cướp mà cũng không biết gì về nhiếp ảnh). Wheeler cho biết một vấn đề là nước chanh làm mắt hắn cay xè nên gần như hắn không thể nhìn thấy gì.
Wheeler bị đưa vào tù và được ghi vào sử sách những tên tội phạm ngốc nhất trên thế giới. Tờ báo World Almanac 1996 đã đăng câu chuyện của Wheeler và thu hút sự chú ý của David Dunning, một giáo sư chuyên ngành tâm lý của trường đại học Cornell. Ông ấy nhìn thấy trong câu chuyện đau lòng này một đặc điểm phổ biến. Những người ngu thì ít nhận thức được sự ngu của mình. Nhận định này sau này được biết đến với tên là hiệu ứng Dunning- Kruger.
Dunning và một sinh viên tốt nghiệp, Justin Kruger, bắt tay vào thực hiện hàng loạt các thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết này. Họ khảo sát các sinh viên chuyên ngành tâm lý về ngữ pháp, sự lô-gic và chuyện cười, sau đó đề xuất họ ước lượng điểm số của mình và so sánh phần thể hiện của mình so với người khác (tính bằng phần trăm).
Những sinh viên có điểm thấp nhất tự đánh giá cao hơn rất nhiều so với thực tế. Dunning đã dự đoán được điều này nhưng không dự đoán được mức độ phóng đại của hiệu ứng này. Phản ứng đầu tiên của anh với kết quả là “Ồ”. Những người điểm gần áp chót đoán khả năng của họ vượt trội hơn hai phần ba số sinh viên.
Sau một thời gian, họ thực hiện nghiên cứu bên ngoài khuôn viên đại học. Trong một thí nghiệm, Dunning và Kruger chọn những người yêu thích bắn súng tham gia một cuộc thi bắn. Những tình nguyện viên này trả lời mười câu hỏi về an toàn khi sử dụng súng và các câu hỏi được lấy từ một nghiên cứu của Hiệp hội Súng trường Quốc tế. Một lần nữa, những người hiểu biết ít về biện pháp an toàn khi sử dụng súng đã đánh giá quá cao về hiểu biết của họ.
Như hầu hết các lý thuyết, ở đây cũng có những trường hợp ngoại lệ. Dunning và Kruger viết: “Chúng ta không cần đi xa để tìm thấy những người hiểu biết sâu về chiến lược và kỹ thuật của bóng rổ, nhưng không thể thực hiện thành công. (Những người như vậy được gọi là huấn luyện viên.)”
Tuy nhiên, huấn luyện viên hiểu rõ về giới hạn thể lực của mình. Tương tự, “hầu hết mọi người dễ dàng nhận ra sự không hiểu biết của mình khi dịch ngữ Sloven, động cơ V-8, hoặc chẩn đoán viêm não cấp tính.”
Hiệu ứng Dunning-Kruger đòi hỏi một mức độ nhận thức và kinh nghiệm tối thiểu trong lĩnh vực mà bạn không biết (và không thể nhận thức về sự ngu ngốc của bạn). Những người lái xe thường mắc phải hiệu ứng này. Những người lái xe ẩu luôn cho rằng họ là tài xế giỏi - nhưng những người chưa từng học lái xe thì không nghĩ như vậy.
Kể từ khi Dunning và Kruger công bố kết quả của họ trong nghiên cứu năm 1999 “Thiếu kĩ năng và thiếu nhận thức về khả năng bản thân: Những khó khăn khi sự bất tài dẫn đến tự đánh giá cao bản thân.”. Hiệu ứng đã được đặt tên theo Dunning và Kruger và trở thành một hiện tượng phổ biến. Nó chạm đúng vào vấn đề: Khi Dunning công bố nghiên cứu, những lời tự tin thái quá là “cái gì đó chúng ta đã từng gặp.”
Diễn viên John Cleese đã giải thích súc tích hiệu ứng Dunning-Kruger trong một video Youtube được chia sẻ rộng rãi : “Nếu bạn vô cùng ngu ngốc, vậy thì có cách nào để nhận ra được sự ngu ngốc đó của mình? Bạn gần như phải rất thông mình để nhận ra bạn ngu ngốc đến mức nào… Và điều này không chỉ áp dụng cho Hollywood mà gần như toàn bộ Fox News.” Nhưng nghiên cứu năm 1999 thể hiện ý của tác giả rằng nơi đầu tiên để tìm kiếm sự ngu dốt Dunning-Kruger chính là soi mình trong gương.
Hiện nay có một lĩnh vực nghiên cứu Internet đang thay đổi cách chúng ta học và nhớ những gì. Trong một thí nghiệm năm 2011 của Daniel Wegner tại đại học Harvard, tình nguyện viên được yêu cầu đọc 40 câu ngắn gọn, súc tích như câu “Mắt của con đà điểu to hơn não của nó.” Họ được yêu cầu nhập thông tin đó vào máy tính. Một nửa được bảo rằng công việc của họ sẽ được lưu trữ trên máy tính. Còn nửa còn lại không. Một nửa được thông báo rằng công việc của họ sẽ được lưu trữ trên máy tính. Còn nửa còn lại không.
Các tình nguyện viên sau đó thực hiện bài kiểm tra đánh giá thông tin mà họ đã nhập vào máy tính. Những người nhớ thông tin đạt điểm cao hơn những người không nhớ. Nhưng những người tin rằng thông tin của họ sẽ được xóa nhận điểm cao hơn những người tin rằng thông tin của họ sẽ được lưu trữ, dù họ có cố gắng nhớ hay không.
Một bộ não ý thức không cần phải lựa chọn giữa việc nhớ và quên nhiều. Không ai quyết định quên tên khách hàng hoặc nhớ mãi lời của một bài hát pop ghét bỏ. Mọi sự diễn ra như thế.
Kết quả của thí nghiệm từ trường Harvard phù hợp với cách bộ não hoạt động thực sự. Bộ nhớ không thể chứa tất cả. Nó phải liên tục lựa chọn những kí ức quan trọng mà không cần sự can thiệp của ý thức. Và rõ ràng rằng nó nhận ra không cần thiết phải lưu trữ những thông tin dễ dàng truy cập lại. Do đó, những thông tin thường bị quên khi con người tin rằng chúng sẽ được lưu trữ. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Google - chúng ta sẽ tự động quên những thông tin có thể tìm kiếm trực tuyến.
Nếu bạn phụ thuộc quá nhiều vào hiệu ứng Google, có thể gây ra hiện tượng quên. Tuy nghiên cứu năm 2013 của Linda Henkel tại đại học Fairfield đã chứng minh điều này. Henkel nhận xét rằng những người tham quan bảo tàng và chụp ảnh các tác phẩm nghệ thuật bằng điện thoại thường ít hứng thú nhìn đồ thật hơn. Do đó, Linda tiến hành thí nghiệm tại Bảo tàng Mỹ thuật Bellarmine của đại học Fairfield.
Sinh viên tham quan dưới sự hướng dẫn của giáo sư và xem các tác phẩm nghệ thuật cụ thể. Một số sinh viên được yêu cầu chụp ảnh các tác phẩm và một số khác được yêu cầu ghi chú về chúng. Ngày hôm sau, tất cả được hỏi về những gì họ biết về các tác phẩm. Những người tham quan thuộc nhóm chụp ảnh ít có khả năng nhận diện các bức tranh và ghi nhớ chi tiết về chúng.
Chúng ta cần biết rằng thông tin cần lưu trữ có thể được gợi nhớ nhanh chóng và dễ dàng như thế nào. Điều này ngụ ý rằng 'mạng lưới băng thông rộng' của chúng ta đã tạo ra một cách mới để học và nhớ, một trong những thông tin sẽ ít được lưu trữ và dễ dàng quên hơn. Trong vài năm tới, chúng ta có thể sẽ sử dụng các thiết bị ghi lại cuộc sống của mình bằng video 24/7. Liệu mạng xã hội có làm chúng ta trở nên quên nhanh hơn?
Đăng tải những thông tin cần nhớ lên mạng chỉ là một trong nhiều cách chúng ta có thể lưu trữ thông tin bên ngoài não. Cách đây lâu rồi, trước khi có mạng xã hội, chúng ta đã chia sẻ kí ức, kiến thức và quan điểm trong mạng xã hội thực sự của chúng ta. Tôi không phải là người sành về ẩm thực nhưng luôn có những người bạn có thể gợi ý những nhà hàng thú vị. Tôi không biết nhiều về các bác sĩ, nhưng biết có một bác sĩ đa khoa có thể giới thiệu cho tôi một chuyên gia. Chúng ta biết về thế giới không phải vì biết mọi thứ mà là vì quen biết những người.
Trí nhớ vô thức có thể chống lại những thông tin sai lệch ở một mức độ nào đó. Khảo sát chỉ ra rằng hầu hết mọi người nghĩ rằng kháng sinh có thể chống lại vi-rút. Nhưng không phải vậy. Như Dan M.Kahan của đại học Yale chỉ ra rằng kháng sinh hầu như không có tác dụng. “Hầu hết mọi người” không tự ý kê đơn kháng sinh. Điều quan trọng là hãy gặp bác sĩ khi bạn cảm thấy ốm và tuân theo hướng dẫn của họ.
Hiệu ứng Google là một biến thể khác của trí nhớ bị phân tán. Bộ nhớ đám mây là một người bạn dường như biết tất cả mọi thứ. Nó luôn sẵn có, cung cấp câu trả lời trong vài giây và không bao giờ tức giận với những câu hỏi ngu ngốc. Không cần nghi ngờ là chúng ta phụ thuộc vào nó đến mức phi lý.
Hơn 50% các bạn trẻ thế hệ 10X không biết ai đã bắn tổng thống Mỹ hoặc khám phá một hành tinh; họ không biết thành phố cổ nào nổi tiếng với vườn treo, hoặc không thể nói từ duy nhất con quạ trong bài thơ của Edgar Allan Poe đã thốt ra.
Sự thiếu hiểu biết cũng có thể hợp lý - như nhà kinh tế Anthony Downs đã khẳng định vào những năm 1950. Theo ông, có rất nhiều tình huống chi phí để có kiến thức còn lớn hơn lợi ích của kiến thức. Có thể bạn tốt nghiệp và có một công việc lương cao mà không cần hiểu biết gì về bài thơ con quạ đó. Vậy thì tại sao phải học nó bây giờ chứ?
Chúng ta đang sống trong thời đại hoàng kim của sự thiếu hiểu biết và hợp lý hóa sự thiếu hiểu biết. Thông tin luôn được tạo ra, mất giá trị, trở nên lỗi thời với tốc độ chóng mặt. Mỗi ngày, văn hóa thay đổi không ngừng. Thật khó để bắt kịp, hoặc thậm chí không biết việc bắt kịp còn ý nghĩa gì không.
Chúng ta mù mờ về những sự kiện diễn ra tại Trung Đông, về tiểu thuyết đương đại, về vấn đề chính trị địa phương, ngành công nghiệp may mặc và bóng rổ đại học. Một người bạn lo lắng rằng liệu cô ấy có ổn khi cô ấy không biết chút nào về Game of Thrones. Bạn có thể tìm kiếm bất cứ thông tin nào để tránh vấn đề này. Nhưng bạn không thể tra cứu quan điểm trên Google.
Những người thiếu hiểu biết không nhất thiết là những người biết ít. Họ chỉ biết về những thứ khác. Một game thủ dành thời gian rảnh rỗi để chơi game sẽ có hiểu biết toàn diện về trò chơi. Anh ta bị đánh giá là thiếu hiểu biết do tiêu chuẩn đánh giá tùy ý về cái gì mới là quan trọng. Không phải ai cũng đồng ý rằng có một hệ thống cố định về những thông tin chúng ta nên biết. Nếu không có hệ thống đó, khái niệm về hiểu biết sẽ trở thành một khái niệm tương đối.
Các phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay không cung cấp nhiều hướng dẫn cho chúng ta. Chúng khuyến khích chúng ta tạo ra bộ lọc thông tin cá nhân để dễ dàng tìm kiếm thông tin về người nổi tiếng, chương trình truyền hình, các nhóm hoạt động, ý kiến chính trị, hoặc đồ chơi công nghệ cao. Điều này khiến chúng ta dành ít thời gian và chú ý hơn cho các mối quan tâm khác. Rủi ro lớn nhất không phải Internet làm chúng ta thiếu hiểu biết hoặc không hiểu biết. Nó làm cho chúng ta trở nên siêu ngu trong việc nhận ra điều chúng ta không hiểu.
Mytour (Trạm Đọc)
Theo Nymag
