Sông Đà trong mùa cạn tạo ra những bãi phù sa trải dài, các làng bản treo lơ lửng bên sườn núi, bí mật ẩn sau lớp sương mù dày đặc.
Hành Trình Phượt Đà Giang Mùa Nước Cạn
Vùng Hồ Trong Mùa Nước Cạn
“Đến sông Đà mùa này, chỉ có thể đi theo hướng từ Vạn Yên xuống Nam Phong, và chỉ có thể đi bằng đường thủy”. Đây là hướng dẫn của một người địa phương khi chúng tôi thám hiểm, đi ngược từ Phù Yên lên Quỳnh Nhai (Sơn La). Trước cảnh thuyền mắc kẹt trong bùn lầy do nước giảm, chúng tôi quyết định thay đổi lộ trình, từ Vạn Yên đi Bắc Phong, để sau đó lội ngược dòng nước để trở về nguyên trạng.

Dù có những khó khăn, niềm hứng thú không chịu nghỉ ngơi. Tôi và đồng hành quyết định thay đổi lộ trình, đi qua địa bàn Vạn Yên – Bắc Phong, để từ đó lội ngược con nước quay trở về Quỳnh Nhai. Nhưng không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi sự kiên nhẫn và sự khéo léo trong từng bước di chuyển.
Đến vùng Bắc Phong, tuyến đường đang được nâng cấp, tạo ra những vũng lầy trơn trượt. Cứ vài mét lại có những hầm hố, đòi hỏi chiếc xe máy phải vượt qua những đoạn đường nguy hiểm dài chưa đầy 2 km.
Khi đến xã Đá Đỏ, chúng tôi tiếp tục lên bến Đá Phổ (Bắc Phong) để ngược sông Đà bằng đường thủy. Thuyền sắt nhỏ gọn chở chúng tôi rời bến, ngược dòng sông Đà. Hai bên bờ sông, những bãi bồi rợp cây xanh rì và đàn trâu bò thoải mái gặm cỏ.

Lò Văn Toàn, người làm nghề hoa tiêu, chia sẻ về cuộc sống của mình trên thuyền. Anh kể về đam mê lênh đênh theo dòng nước mỗi ngày, bỏ lại vợ con ở nhà vì thích cuộc sống này.
Trên đoạn này, Toàn thường nhấn mạnh vẻ đẹp của sông Đà trong mùa cạn. Nước rút, bãi cát, và những khúc sông uốn lượn tạo nên bức tranh độc đáo. Bà con ven sông cũng tranh thủ giăng lưới bắt cá, đôi khi là cá yến ngon.
Phía bờ tả ngạn sông Đà, những khối phù sa do nước xoáy tạo thành những khối đất lớn đổ xuống sông. Chúng tôi phải đi giữa dòng và đối mặt với sóng lớn để đảm bảo an toàn khi cập bến.
Mùa Bắt Cá Sặc Bùn
Từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7, khi bước chân vào vùng hồ sông Đà, bạn sẽ trải nghiệm một kỳ nghỉ độc đáo nếu may mắn gặp được sự kiện đặc biệt - mùa cá sặc bùn. Nhớ mãi khoảnh khắc khi tôi đứng ở xã Đá Đỏ (Phù Yên), anh Đinh Hạnh, Trưởng bản Tang Lang, hân hoan với bức tranh sấm chớp ấn tượng từ phía thượng nguồn. Mưa lũ không chỉ làm tươi mới mảng đất, mà còn là dịp cá sặc bùn hội tụ, đưa chúng trôi dạt về nhau qua dòng sông.
Bản Tang Lang như một bức tranh sống động bởi trận mưa. Đất đỏ mềm mại, tiếng ầm ầm của đất trời, và tiếng xôn xao của người dân họp lực ra sông đón chào mùa cá sặc bùn. Mỗi năm, những khoảnh khắc này làm cho làng ngập tràn sôi động. Lạ thường là mỗi đoạn sông dài hơn 10 km ở Tang Lang lại có sự hội tụ của cá sặc bùn. Nguyên nhân có vẻ kỳ lạ, nhưng chính sự hòa quyện của núi đá cao, dòng sông uốn lượn và nước sâu đã tạo nên điều kỳ diệu này.
Tuy nhiên, không phải mọi chỗ đều may mắn như vậy. Có vẻ như ở Tang Lang, cá sặc bùn tụ tập chỉ trong khoảng 10 km dọc theo sông. Là do vùng này có địa hình đặc biệt với nhiều ngọn núi đá cao, dòng sông quanh co, tạo ra những khúc quẩn tuyệt vời. Khi cá dạt về đây, chúng phải đối mặt với thách thức từ nước xoáy, khiến chúng trở nên yếu đuối. Kết quả là, mỗi năm, chỉ có đôi bận có thể nắm bắt được cá sặc bùn. Trong khi chúng tôi đang lắng nghe câu chuyện, dòng sông bất ngờ đục ngầu, cuồn cuộn chảy về phía chúng tôi.
Đứng trên mạn thuyền, tôi nhìn kỹ xuống mặt nước đục ngầu và không chỉ thấy cá, mà còn nhận ra nhóm tôm tép đang dạt về như một đàn kiến, tạo nên bức tranh sống động giữa dòng nước lặng. Cả đám chúng tôi đều háo hức vớt thuyền vào bờ, cầm theo dao và vợt, chạy dọc theo bờ nước để bắt những con cá to. Cảm giác hò reo và niềm vui lan tỏa khi chúng tôi cùng nhau chia sẻ bữa tiệc cá sặc bùn ngon miệng.

Nghề cá trên sông Đà
Khi màn sương sớm vẫn đọng đậy trên mặt sông, những ngư phủ trên dòng Đà bắt đầu chiến đấu với làn mạng lưới của mình. Tôi gặp ông Lò Văn Khặn (sinh năm 1966) ở bản Bung, xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai khi ông đang say sưa kéo lưới trên dòng sông Đà. Theo lời kể của ông Khặn, nơi đây trước đây là vùng cao nguyên, chỉ sau khi có công trình Thủy điện Sơn La, vùng lòng hồ mới xuất hiện, và từ đó, người dân đã bắt đầu sắm thuyền và lưới để theo đuổi nghề bắt cá.
Lòng hồ thủy điện trải qua hai mùa, mùa nước nổi và mùa nước cạn. Công việc đánh bắt thủy sản chủ yếu diễn ra trong mùa nước nổi kéo dài khoảng 5 tháng mỗi năm. Ngoài ra, để kích thích kinh tế vùng tái định cư, các hộ dân ở đây đầu tư mạnh mẽ, phát triển nuôi cá bè.
Không ngẫu nhiên Chiềng Bằng được biết đến là địa phương có diện tích chăn nuôi thủy sản lớn nhất Quỳnh Nhai. Vùng này tập trung hơn 72 ha nuôi trồng thủy sản với 155 lồng cá, sản lượng cá nuôi đạt khoảng 36 tấn. Khi hỏi về thu nhập, ông Khặn không giấu diếm: “Gia đình tôi có 4 người, thu nhập từ bán cá lên tới 400 triệu đồng/năm”. Điều này chứng minh sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế vùng lòng hồ sông Đà.
Ngồi trên thuyền, tôi đếm được tới 4 loại lưới và 1 công cụ đặc biệt - công cụ mà ông Khặn và cộng đồng dân cư dùng để bắt tôm, cá. Có loại chỉ giăng trên mặt nước để bắt cá chép, có loại thả xuống lòng sông để bắt cá trắm, cá nheo… Nhìn về những dãy lồng nuôi cá, ông Khặn kể: “Những năm trước, lòng hồ có nhiều cá hơn, mỗi ngày thu lưới được hàng chục kg, chủ yếu là cá lăng, cá nheo, cá trắm, cá chép, cá mè và tôm. Đôi khi, chúng tôi còn bắt được những con cá trắm, cá chép nặng cả yến”.
Các con cá được bán vào buổi sáng cho nhà hàng, quán ăn hoặc cộng đồng trong bản. Mang ra chợ, mỗi ngày thu được 600.000 – 700.000 đồng, có ngày lại chẳng có con nào bán. Trung bình mỗi ngày, họ kiếm được khoảng 200 – 300.000 đồng, đóng góp vào thu nhập gia đình.
Tiếp tục hành trình đến khu vực cầu Pá Uôn, nơi được gọi là “thủ phủ” của người nuôi cá lồng. Đúng là không nói quá khi nơi này tập trung nhiều hộ dân, hợp tác xã thủy sản tham gia nuôi cá dưới lòng hồ thủy điện. Bà Vũ Thị Lợi, Chủ nhiệm Hợp tác xã thủy sản Hạnh Lợi là người sở hữu diện tích nuôi cá lớn nhất trong vùng. Người phụ nữ quê Thái Bình này có tới 32 lồng cá (14 lồng cá nheo, 7 lồng cá tầm, còn lại là cá chép, cá trôi, rô phi…), trung bình mỗi năm cung cấp khoảng 10 tấn cá, tạo việc làm thường xuyên cho 4 lao động với mức lương từ 3 – 5 triệu đồng/người/tháng.
Sau một ngày khám phá lòng hồ, chúng tôi nghỉ chân tại một bản người Dao có tên Ngài Thầu. Bản là địa điểm tái định cư của xã Căn Co. Mặc dù đã chuyển đến bản mới, nhưng người dân vẫn giữ nguyên kiến trúc nhà trệt cổ. Tại đây, ngoài việc thưởng thức các món như cơm trắng, cá sông, rau rừng, chúng tôi còn được thưởng thức những điệu múa cổ và các bài ca giao duyên truyền thống mà thanh niên Dao thường trình bày khi tìm kiếm tình yêu. Trong câu chuyện tại bàn ăn sắp kết thúc, một cư dân Ngài Thầu nói: “Bà con ở bản chỉ có trái tim để đón khách. Đây là lần thứ hai, bà con trong bản đón khách từ xa về. Khách đến bản, bà con thật sự hạnh phúc, cả bản như có một lễ hội…”.
Theo thông tin từ Báo Pháp Luật Việt Nam
***
Tham khảo: Hướng dẫn du lịch của Mytour.com
Mytour.comNgày 11 tháng 9 năm 2015