Có một số công ty đã tăng cường sản xuất máy thở, khẩu trang và lá chắn mặt một cách cấp bách. Nhưng thời điểm hiện tại đã thay đổi nhiều so với việc thúc đẩy kinh tế trong năm 1941.
Đối mặt với sự lây lan của đại dịch Covid-19 trên khắp nước Mỹ, Ford đã tuyên bố tạm ngưng dây chuyền sản xuất xe tải và SUV. Tuy nhiên, nhân viên vẫn làm việc và dây chuyền vẫn hoạt động để Ford có thể tham gia vào các dự án hỗ trợ đất nước trong thời kỳ kinh tế khó khăn và hỗ trợ ngành y tế.
Ford hợp tác với 3M để phát triển mặt nạ từ các linh kiện có sẵn trong kho, liên kết với GE Healthcare để tăng cường sản xuất máy thở - một công cụ thiết yếu trong cuộc chiến chống Covid-19. Họ cũng đã nhận thiết kế lá chắn mặt từ ba kỹ sư 'chuyển nghề' để sản xuất hàng loạt.

Các nhà sản xuất ô tô khác cũng đang hỗ trợ Ford. Elon Musk, CEO của Tesla, đã mua hơn 1.000 máy thở từ Trung Quốc để cung cấp cho bệnh viện địa phương, và kế hoạch dài hạn của họ là hợp tác với Medtronic để sản xuất máy thở tại nhà máy gigafactory của mình. General Motors (GM) đang hỗ trợ Ventec Life System mở rộng quy mô sản xuất máy thở và tìm mọi cách để hỗ trợ cộng đồng đẩy lùi dịch bệnh.
'Chúng tôi đang cố gắng làm mọi thứ một cách nhanh chóng nhất có thể', chủ tịch Bill Ford của Ford nói với CNBC. 'Đây là những gì chúng tôi có thể làm khi cần'. Nếu nhìn lại lịch sử, ta cũng thấy Ford đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất vũ khí cho Mỹ trong Thế chiến II. Khi hoạt động ở công suất tối đa, Ford đã sản xuất một chiếc máy bay ném bom B-24 mỗi 63 phút tại nhà máy Willow Run ở phía Tây Detroit.
Tuy nhiên, cuộc chiến chống lại một kẻ thù nhỏ đến mức mắt người không thể nhìn thấy là phức tạp hơn nhiều. Sản xuất các thiết bị phức tạp như máy thở, yêu cầu kỹ thuật chính xác, không phải là điều dễ dàng; sản xuất máy bay ném bom cũng không dễ dàng như vậy.

Để đối phó với phát xít, các nhà sản xuất Mỹ đã mở thêm nhà máy, đào tạo thêm lực lượng lao động khổng lồ, dừng mọi hoạt động không cần thiết để tập trung sản xuất các thiết bị quan trọng cho cuộc chiến. Các công ty sản xuất đồ gia dụng đã chuyển sang sản xuất súng máy, nhà máy may mặc đã sản xuất lưới ngụy trang, và các cơ sở sản xuất đường sá đã chuyển sang sản xuất tàu chiến. Thậm chí các thành phần của máy hút bụi đã được sử dụng để làm bộ phận của mặt nạ phòng độc.
Để chiến đấu với virus, ngành y tế Hoa Kỳ ngày nay không giống như ngành quân sự trong quá khứ, nhưng tình hình đòi hỏi họ cần thiết bị y tế hơn bao giờ hết. Giống như trong một cuộc chiến, virus SARS-CoV-2 đã thay đổi cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người. Nhà máy đóng cửa không phải vì kinh tế suy thoái, mà vì nguy cơ lây nhiễm. Năm 1941, những gì Mỹ cần cho cuộc chiến chỉ nằm trong phạm vi biên giới quốc gia, nhưng bây giờ, dây chuyền sản xuất 'hàng Mỹ' đã lan rộng khắp thế giới.
Cách mà nền công nghiệp Mỹ đã kích hoạt mọi nhà máy để chuẩn bị cho cuộc chiến là đáng kinh ngạc, cả về quy mô, tốc độ và kết quả thành công. Ngày nay, nhìn lại thời điểm quan trọng ấy trong Chiến tranh Thế giới, ngành công nghiệp cũng rút ra được một số bài học.
Bài học đầu tiên, rất tiếc là không có ích trong thực tế: chuẩn bị kỹ càng từ trước. Trước khi Trân Châu Cảng xảy ra (7/8/1941), hơn một năm, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt đã ra lệnh chuẩn bị quân sự và sản xuất vũ khí. Vào tháng Tư năm 1941, chính phủ Hoa Kỳ đã yêu cầu ngành công nghiệp ô tô - một trong những ngành công nghiệp trọng điểm thời bấy giờ - sản xuất lượng động cơ máy bay, xe tăng, súng máy và nhiều công cụ khác trị giá 1,5 tỷ USD (khoảng 26,4 tỷ USD ngày nay). Khi Mỹ tham gia Thế chiến, ngành công nghiệp ô tô đã trở thành một bánh răng quan trọng trong chuỗi cung ứng vũ khí cho tiền tuyến.
'Chúng ta không sẵn sàng chiến đấu vào tháng Mười hai năm 1941', nhà sử học kỳ cựu Rob Citino nói. 'Nhưng chúng ta có thể chuẩn bị chiến đấu tốt hơn nhờ vào việc Roosevelt ra lệnh sản xuất vũ khí sớm'.

Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt tuyên bố tham chiến.
Trong năm nay, chính phủ Hoa Kỳ đã mất nhiều tuần để nhận ra tình hình, và giờ là lúc phải đối mặt với thách thức. May mắn thay, đã có các công ty tham gia vào cuộc chiến chống lại virus. Ngoài các hãng ô tô, còn có Givenchy, Dior và Pernod Ricard - những công ty sử dụng cồn trong sản phẩm của mình - đang sản xuất nước rửa tay kháng khuẩn. Honeywell đã thuê thêm 500 nhân công để mở rộng sản xuất khẩu trang N95. Sản lượng khẩu trang của Prestige Ameritech đã tăng gấp 4 lần, lên đến 1 triệu khẩu trang mỗi ngày. Amazon đã thuê thêm 100.000 nhân công để đáp ứng nhu cầu giao hàng tại nhà, trong khi kho hàng của Amazon chỉ chứa các mặt hàng cần thiết.

Cán bộ công nhân tại nhà máy Ford đang gắn lắp mặt nạ bảo vệ.
Mọi nỗ lực đều rất quan trọng, nhưng vẫn được phân tán. Trong một cuộc phỏng vấn với CNBC, Bill Ford cho biết tập đoàn của ông không chờ đợi chỉ thị từ Nhà Trắng, mà tự mình tìm cách hỗ trợ ở mọi khía cạnh có thể.
Và đây chính là bài học thứ hai: Sự phối hợp cần được thúc đẩy, và chỉ đạo phải đến từ chính phủ. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ đã đáng kể trì hoãn.
Sự phối hợp giữa các doanh nghiệp cũng không đồng nhất như thời kỳ 1941, khi Mỹ có Hội đồng Sản xuất Chiến tranh của Ngành máy móc tự động, hướng tới việc tập hợp sản lượng từ 192 nhà máy vào nỗ lực chuẩn bị cho chiến tranh, tối ưu hóa sức sản xuất của tất cả máy móc họ có. Trong năm tuần sau khi Mỹ tham chiến, chính phủ đã ký kết các hợp đồng trị giá 3,5 tỷ USD (tương đương 61,6 tỷ USD ngày nay) với ngành công nghiệp ô tô, đồng thời ra lệnh cấm sản xuất ô tô dân dụ để tập trung vào việc sản xuất vũ khí.
Chính phủ Mỹ cũng đã áp đặt áp lực lên các công ty để chia sẻ tài sản sở hữu trí tuệ của họ, không cho phép sản lượng tập trung ở một tập đoàn nào. Ví dụ, khi Boeing không thể đáp ứng nhu cầu về máy bay ném bom B-17, chính phủ đã hợp đồng với Lockheed để tham gia sản xuất. Lockheed đã trả một khoản phí nhỏ để được phép sản xuất máy bay.
Trong Thế chiến thứ Hai, chính phủ Mỹ đã đầu tư xây dựng nhà máy và là chủ sở hữu của chúng, cho thuê cho các công ty sử dụng và mua lại toàn bộ sản phẩm. Điều này cho phép các công ty mở rộng mô hình kinh doanh mà không lo lắng về hồi vốn, đồng thời đảm bảo chính phủ có được những gì họ muốn và khi nào họ muốn. Điều này cũng là lý do tại sao Ford đã có dây chuyền sản xuất dài hàng cây số tại Willow Run.

Nỗ lực hợp tác này là 'nền tảng của khả năng huy động sức mạnh của Mỹ', nhà sử học Mark Wilson cho biết. Thay vì đợi các doanh nhân ra quyết định liệu kế hoạch này có lợi nhuận hay không, 'chính phủ đã sử dụng tiền bạc để giải quyết vấn đề và đảm bảo doanh nghiệp rằng ‘đừng lo, chúng tôi sẽ đảm bảo về mặt tài chính’'.
Trong tình hình hiện nay, không có các hợp đồng đầy lợi nhuận từ phía chính phủ để kích thích doanh nghiệp, vì vậy khi thay đổi dây chuyền sản xuất, các doanh nghiệp phải xem xét kế hoạch tài chính của mình. Trong thời chiến, chính phủ Mỹ đã mời gọi doanh nghiệp với mức lợi nhuận lên đến 8%. Có một câu chuyện hài hước như thế này: nước Mỹ chiến thắng nhờ lòng yêu nước và con số '8%' lợi nhuận.
Điểm quan trọng để chiến thắng trong mọi cuộc chiến toàn cầu - từ Thế chiến đến cuộc chiến chống dịch Covid-19 - là tìm ra phương pháp khích lệ để thúc đẩy mọi nỗ lực sản xuất theo hướng đúng đắn.
Như sử gia Citino đã nói, đó là 'làm việc tốt và làm rất tốt'.
Tham khảo Wired
