Trước đó, mình đã tường thuật về lịch sử của đĩa vinyl (đĩa than). Giờ, chúng ta sẽ đào sâu vào đối tác không thể thiếu của nó: bản thu âm. Câu chuyện về bản thu âm và bản sao của chúng bắt đầu từ năm 1877, khi Thomas Edison phát minh ra máy phonograph. Máy này có cấu tạo độc đáo với một xylanh và tấm lá thiếc, được vận hành bằng tay cầm. Khi người sử dụng nói vào ống thu phát, sóng âm sẽ được chuyển đến màng diaphragm, tạo ra những rung động và rãnh âm trên tấm lá thiếc.Để phát lại âm thanh, chỉ cần đặt đầu kim stylus vào vị trí ban đầu của rãnh âm và quay xylanh. Kim stylus sẽ di chuyển theo rãnh và truyền những rung động đó đến màng diaphragm, từ đó phát ra âm thanh ở ống thu phát.

Thực tế, âm thanh tái tạo bởi máy này gần như không nghe được, nhưng đó là bước đầu tiên quan trọng. Edison sau đó tập trung vào các phát minh khác như bóng đèn điện. Chiếc phonograph chỉ được sử dụng để truyền tín hiệu điện thoại. Khoảng 10 năm sau, Alexander Graham Bell và Charles Tainter thấy xylanh và rãnh lá thiếc của máy có độ bền thấp, họ chuyển sang sử dụng sáp cứng. Điều này cải thiện độ chính xác của tín hiệu và kéo dài tuổi thọ của đầu kim stylus.
Trong khoảng thời gian từ 1887 đến 1893, Emil Berliner đã tạo ra chiếc gramophone với thiết kế mới lạ hơn so với máy phonograph của Edison, giúp phát lại âm thanh một cách dễ dàng và sản xuất với giá rẻ hơn. Thiết kế này có kim stylus nhưng rãnh âm được tạo trên một đĩa phẳng thay vì trên xylanh, và được ghi trên bề mặt lampblack phủ trên một đĩa kim loại. Sau khi thu âm, đĩa sẽ được axít hóa để tạo ra rãnh âm, từ đó tạo ra chiếc đĩa có thể chơi trên máy gramophone. Ngoài ra, Berliner cũng sử dụng phương pháp electroplating để sản xuất nhanh các bản đĩa khác nhau.
Người ta bắt đầu nhận ra tiềm năng của ngành thu âm, mặc dù quy trình sản xuất đĩa và phát lại vẫn còn thô sơ. Tuy nhiên, các cải tiến sau đó như sử dụng sáp cứng và electroplating đã giúp máy gramophone trở thành thiết bị chơi nhạc hàng đầu. Đồng thời, các loại đĩa vinyl cũng được cải tiến với các kích thước khác nhau như 7-inch, 10-inch, hay 12-inch để phục vụ đa dạng nhu cầu sử dụng. Will và Fred Gaisberg đã sưu tập và in ra số lượng lớn các bản đĩa gốc, góp phần phát triển của ngành công nghiệp thu âm.
Trong thời kỳ từ năm 1887 đến 1893, Emil Berliner đã sáng tạo ra chiếc gramophone với thiết kế mới, giúp phát lại âm thanh dễ dàng hơn và có thể sản xuất với giá rẻ hơn. Thiết kế này có kim stylus nhưng rãnh âm được tạo trên một đĩa phẳng thay vì trên xylanh, và được ghi trên bề mặt lampblack phủ trên một đĩa kim loại. Sau khi thu âm, đĩa sẽ được axít hóa để tạo ra rãnh âm, từ đó tạo ra chiếc đĩa có thể chơi trên máy gramophone. Ngoài ra, Berliner cũng sử dụng phương pháp electroplating để sản xuất nhanh các bản đĩa khác nhau.
Trong studio thu âm, khoảng cách giữa nghệ sĩ và micro là điểm đặc biệt nhất. Thường sẽ sử dụng 2 micro khi cần thu âm tiếng violin, vị trí tiêu chuẩn là violin gần nhất, sau đó đến các loại sáo, kèn đồng. Đàn nhạc sẽ chơi theo chỉ dẫn của nhạc trưởng trong gương phản chiếu từ phía bên cạnh. Đàn cello được đánh nền bằng bassoon, còn tiếng double bass được thay thế bằng tuba để nghe rõ hơn. Khi thu âm giọng hát chung với tiếng piano, micro sẽ được đặt phía trước miệng của ca sĩ, trong khi đó piano sẽ được đặt phía sau ở vị trí có âm lượng tốt nhất đi vào micro. Phần trình diễn sẽ được thu cho đến khi đĩa trống được thu đầy. Các thiết kế đĩa thu có thời lượng từ 2 đến 4 phút. Sau khi thu âm xong, các bản đĩa sáp master được gởi lại về xưởng cho công đoạn electroplating để tạo ra các khuôn đĩa negative bằng kim loại dùng để in thử.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các hãng thu âm phải đối mặt với một đối thủ mới: đài phát thanh. Vào những năm đầu tiên của thập niên 1920, đài phát thanh chiếm lĩnh thị trường âm thanh với chất lượng rõ ràng từ microphone và loa, vượt trội so với gramophone. Các hãng thu âm chuyển sang thử nghiệm ghi âm bằng microphone thay vì ống thu như trước. HMV thử nghiệm hệ thống thu bằng microphone của mình vào năm 1924 nhưng không đạt được kết quả như mong đợi. Cũng trong thập niên 1920, Maxfield và Harrison (Bell Telephone Laboratories) phát triển hệ thống thu âm Western Electric (còn gọi là Westrex) với khả năng thu âm trực tiếp mà không cần các thiết bị bên ngoài. Kết quả đạt được rất ấn tượng, gần như có thể thu âm đầy đủ một dàn nhạc. Công nghệ mới này đã nâng cao tính trung thực của âm thanh tổng thể, giúp gramophone cạnh tranh với đài phát thanh. Victor, Columbia, HMV... chuyển sang sử dụng công nghệ mới này. Các bản thu đầu tiên thường là nhạc phổ biến, sau đó là jazz và nhạc cổ điển. Mỗi hãng thu có phong cách riêng nhằm phù hợp với sở thích của từng đối tượng người nghe. Công nghệ mới cũng phục vụ cho việc thu âm các buổi biểu diễn trực tiếp, điều mà cấu trúc thu âm cơ học trước đây không thể làm được. Tại Anh, Gramophone Company thành lập Opera House Committee (sau đổi thành Outside Recording Committee) để thu âm các buổi biểu diễn trực tiếp. Royal Opera House (Covent Garden) là một trong những địa điểm được nhiều ngôi sao âm nhạc thế giới ghé thăm và biểu diễn. Tuy ý tưởng truyền tín hiệu âm thanh từ microphone qua đường dây điện thoại đến máy thu âm được đánh giá là đột phá nhưng hiện nay khó có thể tiếp tục áp dụng được. Điều này là do các kỹ sư âm thanh không thể nhìn thấy sân khấu và không biết các diễn biến diễn ra tại đó, làm cho việc chuyển đĩa phải dựa vào suy đoán. Ví dụ, một phần hay và được yêu thích có thể sẽ không thu đủ trong phần còn lại của đĩa, khiến các kỹ sư phải giảm âm lượng và chuyển đĩa ngay để thu hết phần này ở mặt bên kia. Ngoài ra, còn có các vấn đề khác như không thu được tiếng vỗ tay hoặc không thu được các phần biểu diễn của các nghệ sỹ từ các hãng khác.
Không thể không nhắc đến chi phí thu âm, đặc biệt là phí trả cho nghệ sĩ biểu diễn. Một số dàn giao hưởng đòi mức phí thu âm cao ngang với phần trình diễn đầy đủ, điều này khó chấp nhận được. Mọi chuyện cuối cùng đều quay về mục tiêu chính là lợi nhuận. Vào khoảng tháng 5/1926, tác phẩm Mefistofele của Boito được thu âm với vai chính là Chaliapin, tổng cộng gồm 9 mặt đĩa được thu chỉ trong một buổi tối. Tiếp theo, vào tháng 6/1926, La Bohème với sự tham gia của Margaret Sheridan và Angelo Minghetti cũng được thu âm thành công. Phần trình diễn cuối cùng của Dame Nellie Melba, có sự tham gia của Lord Stanley, được thu tổng cộng 11 mặt đĩa. Giovanni Zenatello cũng thu thử 10 mặt đĩa tuy nhiên không thành công do giọng ông quá to. Năm 1927, HMV tiếp tục thu âm Chaliapin trong phần trình diễn của Mozart và Salieri ở Royal Albert Hall. Vào năm 1928, Boris Godunov cũng được thu âm ở Covent Garden. Hệ thống thu âm Westrex vẫn có giá của riêng nó. Mỗi bản thu bán ra được sản xuất bởi hệ thống này đều phải trả một khoản phí. Gramophone Company sau khi hợp nhất với Columbia vào năm 1931 đã phát triển một hệ thống thu âm mới, tiền thân của hệ thống Blumlein hiện đại. Máy cắt Blumlein chính là tiền đề cho hầu hết các máy cắt ngày nay. Hãng RCA (Mỹ) cũng phát triển thiết kế máy cắt riêng của mình, là tiền thân cho những mẫu máy cắt sau thời kỳ Westrex. Bản nhạc phim đầu tiên được thu âm bằng quy trình Vitaphone bởi Bell Laboratories và Western Electric sau đó được chơi đồng thời với bộ phim đang chiếu. Tuy nhiên để các rãnh âm có thể xoay được bằng thời lượng với cuộn phim dài khoảng 300m, đĩa sẽ phải quay với tốc độ 33⅓-rpm và tăng kích thước lên khoảng 17-inch, quá lớn để có thể đảm bảo chất lượng. Các nhà làm phim và sản xuất nhạc giải quyết điều này bằng cách chuyển sang làm các bộ phim ngắn, giúp tiết kiệm kinh phí hơn.
Năm 1931, RCA Victor thử nghiệm một định dạng đĩa mới với kích thước tiêu chuẩn và quay với tốc độ 33⅓-rpm, cắt bằng máy HQ-cutter của chính hãng thiết kế. Các phiên bản ban đầu không được công chúng quan tâm do có giá đắt và cần thiết bị chuyên dụng để chơi, trong khi đó Mỹ đang trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và làm gì có ai dư tiền. Ngay cả với người chịu chi tiền đầu tư hệ thống chơi nhạc mới, chất lượng nhạc mà họ có được cũng chưa đảm bảo tối ưu. Nhiều người còn cho rằng chất âm dở hơn, và thực sự thì đa số đĩa đều được thu lại từ các bản thu 78-rpm. Nói các bản thu 'dở' đi là chưa đúng, chính xác hơn thì chúng có chất lượng không đảm bảo do công nghệ còn thiếu tương thích. Mọi thứ tiếp tục rề rà cho đến khoảng cuối những năm 1930. Lúc này đĩa 16-inch 33⅓-rpm đã trở thành tiêu chuẩn chơi trong trên các đài radio, còn gọi là đĩa transcript (transcription disc). Tuy nhiên với các dàn máy gia đình, người ta vẫn chuộng đĩa 78-rpm hơn, dù không phải là hi-fi nhưng vẫn cho chất âm sạch và không bị méo tiếng. Đó là chưa kể đến công nghệ đĩa đã tiến triển khá nhiều rồi. Lúc này người ta cũng bắt đầu phát triển ra cách lưu trữ các dải tần cao hơn, lên đến khoảng 14kHz và hơn nữa. Điều này bắt nguồn từ các dự án bí mật của chính phủ đòi hỏi khả năng thu các tần số cao để sử dụng trong tàu ngầm chiến đấu. Decca là hãng đầu tiên giới thiệu hệ thống FFRR (Full Frequency Range Recording) sau chiến tranh. EMI cũng giới thiệu công nghệ Extended Range Recording tuy nhiên vẫn dựa trên đầu cắt của RCA. Công nghệ thu âm trên băng từ đã được đưa vào sử dụng từ khoảng năm 1899, và tuy được Anh và Mỹ khởi xướng, Đức mới là quốc gia phát triển công nghệ băng từ âm thanh sớm nhất. Khi quân Đồng minh chiếm các đài radio của Đức vào năm 1945, họ bất ngờ khi thấy công nghệ băng từ của Đức đã tiến rất xa so với trước chiến tranh. Máy thu băng từ của Đức có thể thu stereo và cho chất lượng ngang bằng với đĩa 78-rpm. Người Mỹ mang về những chiếc máy Magnetophon và cải tiến chúng thành mẫu máy Ampex 200, và ở Anh thì được thiết kế lại thành EMI BTR 1. Thời lượng thu âm tối đa chỉ 4 phút rưỡi đã không còn là vấn đề khi băng từ có thể thu được đến 30 phút. Băng từ còn có thể cắt ghép cực kỳ dễ dàng, không như đĩa nếu thu hỏng là phải làm lại từ đầu. Đây chính là lúc mà ngành thu âm bắt đầu được vực dậy sau chiến tranh. Các công nghệ mới cho phép thu đĩa với thời lượng dài hơn cũng như chất âm tốt hơn trước. Các bản thu cũng có thể được chỉnh sửa để mang lại hiệu năng cao nhất. Từ khoảng đầu những năm 1950, hầu hết đĩa 78-rpm đều được thu lại từ băng từ. Đĩa 78-rpm sau đó được thay thế gần như hoàn toàn bằng đĩa LP, và sau đó là CD.
