
| Dữ liệu lâm sàng | |
|---|---|
| Tên thương mại | Principen |
| AHFS/Drugs.com | |
| MedlinePlus | a685002 |
| Danh mục cho thai kỳ |
|
| Dược đồ sử dụng | Uống, tiêm tĩnh mạch |
| Mã ATC |
|
| Dữ liệu dược động học | |
| Sinh khả dụng | 40% (bằng miệng) |
| Liên kết protein huyết tương | 15 đến 25% |
| Chuyển hóa dược phẩm | 12 đến 50% |
| Chu kỳ bán rã sinh học | khoảng 1 giờ |
| Bài tiết | 75 to 85% thận |
| Các định danh | |
Tên IUPAC | |
| Số đăng ký CAS |
|
| PubChem CID | |
| DrugBank | |
| ChemSpider |
|
| Định danh thành phần duy nhất | |
| KEGG |
|
| ChEBI | |
| ChEMBL | |
| ECHA InfoCard | 100.000.645 |
| Dữ liệu hóa lý | |
| Công thức hóa học | C16H19N3O4S |
| Khối lượng phân tử | 349.41 g·mol |
| Mẫu 3D (Jmol) | |
SMILES | |
Định danh hóa học quốc tế | |
Am-pi-xi-lin (từ tiếng Pháp ampicilline /ɑ̃pisilin/), hay còn viết là ampicillin trong tiếng Anh, cũng được biết đến với tên gọi am-pi, là một loại kháng sinh phổ rộng thuộc nhóm betalactam, nghĩa là nhóm kháng sinh có cấu trúc phân tử với khung bêta-lactame và các nhóm biến đổi. Trong cùng nhóm betalactam với ampicillin còn có các thuốc kháng sinh khác như: penicillin, amoxycillin, augmentin, unacyl, cloxacillin, oxacillin,...
Cơ chế tác động
Ampicillin thực chất là một penicillin bán tổng hợp nhóm A với phổ kháng rộng, có hiệu quả chống lại nhiều chủng vi khuẩn gram (+) và gram (-). Ampicillin có tác dụng điều trị các nhiễm khuẩn do vi khuẩn nhạy cảm gây ra ở đường hô hấp, đường mật, tiêu hóa, tiết niệu, cũng như một số bệnh ngoài da như viêm bì mủ, áp xe, đầu đinh... và các nhiễm trùng tai giữa, bàng quang, thận...
Ampicillin là một kháng sinh tương tự penicillin, tác động vào quá trình nhân lên của vi khuẩn bằng cách ức chế sự tổng hợp mucopeptid của thành tế bào vi khuẩn.
Cơ chế tác dụng
Để phát huy hiệu quả, Ampicillin cần thấm qua màng tế bào và kết hợp với các protein đặc hiệu. Các protein này tham gia vào nhiều bước trong quá trình tổng hợp thành tế bào và hiện diện với số lượng lớn trên bề mặt tế bào vi khuẩn. Các protein liên kết với Ampicillin có sự khác biệt rõ rệt giữa các chủng vi khuẩn. Kháng sinh beta-lactam ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào thông qua các protein liên kết penicillin (PBP), dẫn đến sự phân hủy của tế bào. Quá trình phân hủy này được trung gian bởi các enzym tự phân hủy thành tế bào vi khuẩn (như autolysin), và kháng sinh beta-lactam cản trở quá trình này bằng cách ức chế autolysin.
Cơ chế kháng thuốc
Khả năng kháng với Ampicillin chủ yếu do sự sản sinh beta-lactamase. Để khắc phục vấn đề này, các chất ức chế beta-lactamase như axít clavulanic và sulbactam đã được phát triển. Những hợp chất này cũng thuộc nhóm beta-lactam nhưng không có hoạt tính kháng khuẩn riêng. Chúng hoạt động bằng cách gắn vào vị trí hoạt động của enzym beta-lactamase, làm bất hoạt enzym này và sau đó bị phân hủy, nên còn được gọi là các ức chế 'tự sát'. Việc thêm các chất ức chế như acid clavulanic hoặc sulbactam giúp phục hồi hiệu lực của Ampicillin đối với các vi sinh vật sản sinh beta-lactamase. Tuy nhiên, các cơ chế kháng thuốc khác, ngoài sự sản sinh beta-lactamase, có thể đóng vai trò trong việc tạo ra tính kháng của Staph.aureus đối với methicillin.
Ứng dụng
Hiệu quả
- Ampicillin là một loại kháng sinh phổ rộng, hiệu quả trên nhiều vi khuẩn Gram âm trong đường ruột như E. coli, Proteus mirabilis, Shigella và Salmonella. Nó cũng có tác dụng đối với các vi khuẩn ruột, Listeria monocytogenes, Neisseria gonorrhoeae, Neisseria meningitidis, cùng với một số loại Hemophilus influenzae, Gardnerella vaginalis và Bordetella pertussis.
- Kháng sinh Ampicillin có thể tiêu diệt cả vi khuẩn Gram dương như Streptococcus, Pneumococcus, và Staphylococcus không sản sinh penicillinase.
- Nó cũng có hiệu quả đối với Meningococcus và Gonococcus.
Hạn chế
- Ampicillin không hiệu quả với một số chủng vi khuẩn Gram âm như Pseudomonas, Klebsiella, Proteus và các vi khuẩn kỵ khí.
- Kháng sinh này không thể vượt qua hàng rào máu - não. Trong các trường hợp viêm màng não mủ, khi hàng rào máu - não bị tổn thương và thay đổi tính thấm, ampicillin có thể thâm nhập vào hệ thần kinh trung ương với mức độ đủ để phát huy tác dụng. Tuy nhiên, ampicillin dễ bị phân hủy trong môi trường axít.
- Do bị lạm dụng, hiện nay ampicillin đã gặp phải tình trạng kháng thuốc với tỷ lệ cao. Xu hướng sử dụng các kháng sinh mới với phổ rộng hơn để điều trị nhiễm khuẩn đã khiến ampicillin trở thành loại thuốc ít được ưa chuộng hơn.
