
Năm Dân Quốc thứ ba mươi ba (1944 – 1945), sau khi trùng tu chùa Nam Hoa, nơi Lục Tổ Huệ Năng hành đạo, ta cùng thầy Phước Quả đến Khúc Giang tìm đạo tràng Linh Thọ nhưng không thấy. Khi đến núi Vân Môn, giữa những bụi cây và gai góc, chúng ta phát hiện di tích của một ngôi chùa cổ và nhục thân của vị tổ sáng lập đạo tràng Vân Môn. Thấy Tổ đình hư hoại nặng, ta không thể cầm được nước mắt. Một vị tăng tên Minh Không đã ở đó từ năm 1938, chịu đựng gian nan để lo hương khói cho Tổ sư. Nếu không sửa sang ngay, chùa sẽ hoàn toàn hư hoại và bị lãng quên.
Khi trở lại chùa Nam Hoa, ta kể với tướng Lý Hán Hồn về tình trạng này. Ông đã đến tận nơi quan sát và thấy chùa hư hoại giống như chùa Nam Hoa trước đây. Ông bàn với chư tăng và các thân hào địa phương, mời ta lo việc trùng tu ngôi Tổ đình này. Ta chấp nhận và giao chức trụ trì chùa Nam Hoa cho đệ tử Phục Nhân.
Các ngài Lý Tể Thâm, Lý Hán Hồn và Châu Hồng giao cho ta tích trượng Vân Môn cùng số tiền lớn để trùng tu chùa. Dự đoán chiến tranh sẽ lan đến chùa Nam Hoa, ta bí mật thỉnh chuyển nhục thân Lục Tổ Huệ Năng, ngài Hám Sơn và các pháp bảo về núi Vân Môn. Khi đến Vân Môn, ta thấy hầu hết các tự viện trong núi bị hư hoại, ngoại trừ chánh điện thờ tổ Vân Môn, nhưng cũng sắp tàn hoại. Ta tạm trú sau chánh điện để lập kế hoạch trùng tu các tự viện trên núi. Mùa xuân năm Dân Quốc thứ ba mươi bốn (1945 – 1946), quân Nhật chiếm đóng Quảng Châu, dân chạy nạn đến Vân Môn nhiều. Không đủ thức ăn, mọi người cùng chia sẻ khó khăn. Trong số những người chạy nạn có nhiều thợ mộc, thợ nề, thợ đun ngói, gần trăm người. Họ giúp tăng chúng sửa chữa tự viện mà không lấy tiền công, công lao của họ rất lớn trong việc trùng tu.
Vào mùa hè, khi dân quân di chuyển qua căn cứ phòng vệ khác, họ bị một nhóm cướp địa phương phục kích, gây tổn thất nặng nề về quân lương. Đại quân tiếp viện đến đánh tan quân cướp, bao vây hơn bốn mươi làng, khiến hàng ngàn người trong làng phải chạy nạn lên núi.
Các bô lão trong vùng đến chùa cầu cứu ta giúp đỡ, thương lượng với quân binh. Ta đến doanh trại các tướng, bàn luận suốt ba ngày, và kêu gọi nhóm cướp địa phương trả lại quân nhu đã lấy. Nhóm cướp đồng ý, trả lại tất cả đồ vật cho quân binh, cuộc sống dân lành trở lại bình thường. Từ đó, dân chúng kính trọng chư tăng như mẹ hiền. Quân Nhật bao vây huyện, nhưng không dám quấy phá núi Vân Môn, giúp dân trong vùng tránh được nạn chiến tranh.

Năm Dân Quốc thứ ba mươi lăm (1946 – 1947), khi ta đã một trăm lẻ bảy tuổi, Thế chiến thứ hai kết thúc, mọi người trở về quê hương sinh sống bình thường. Chính phủ Dân Quốc ra lệnh cho các tự viện trên toàn quốc tụng kinh, truy điệu, cầu siêu cho các vong linh tử sĩ. Quan chức và người dân trong vùng thỉnh ta làm pháp chủ.
Ngày mười bảy tháng Chín, tại chùa Tịnh Huệ, ta thiết lập đàn tràng cầu siêu. Trong chùa có một cây đào, đột nhiên nở hoa với nhụy đài tinh khiết như lưu ly, thực chưa từng có. Hàng trăm ngàn người đến xem, rất thích thú. Cư sĩ Hồ Nghị Sinh vẽ một bức tranh về hoa đào kỳ diệu này. Pháp hội xong, quan chức và người dân ở Hồ Sán thỉnh ta đến chùa Khai Nguyên tại Hồ Châu hoằng dương Phật pháp. Người thọ giới quy y rất đông. Mùa đông năm đó, đệ tử lớn của ta là Quán Bổn thị tịch. Năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy (1948 – 1949), ta đến Tuệ Viên khai sáng nhà thương Phật giáo Chí Đức, rồi đến Hồng Kông giảng kinh tại Từ Hàn Tịnh Uyển ở Sa Điện. Giám viện Trí Lâm thỉnh ta khai mở tuần niệm Phật thất, thuyết tam quy ngũ giới trước khi trở về Vân Môn. Tháng Năm, đệ tử lớn của ta là pháp sư Giới Trần thị tịch tại Vân Nam. Năm đó, một phụ nữ Mỹ tên là Ananda Jenning đến chùa cầu giới, học thiền đả thất, rất hoan hỷ.
*** Phụ chú của cư sĩ Sầm Học Lữ
Trong năm đó, có một phụ nữ Mỹ tên Ananda Jenning, mến mộ thiền đức của Hòa thượng Hư Vân, đã vượt ngàn dặm xa xôi đến Trung Quốc để cầu ngài chỉ dạy. Bộ ngoại giao Hoa - Mỹ báo tin, Hòa thượng Hư Vân đồng ý. Bà gặp ngài tại Hồng Kông và kể rằng bà muốn học Phật pháp vì đã nghiên cứu Thần học hơn hai mươi năm nhưng vẫn chưa thấu hiểu. Bà đã tu hành tại Ấn Độ, nhập thất bốn năm nhưng vẫn còn nhiều điều thắc mắc, nên không ngại xa xôi tìm thầy học đạo.
Sau đó, bà theo ngài về chùa Nam Hoa, thọ giới quy y với pháp danh Khoan Hoằng. Hòa thượng Hư Vân khai mở thiền thất, thu hút đông đảo bốn chúng đến chiêm lễ, tham gia. Ngày đầu khai mở thiền thất, Hòa thượng Hư Vân thượng đường khai thị: “Nói về việc này, gốc vốn đã viên thành. Nơi thánh không tăng, nơi phàm không giảm. Như Lai bị luân hồi trong sáu đường, nơi nào cũng nghe đến. Quán âm lưu chuyển trong mười loài, loài nào cũng đều như thế. Nếu vậy thì cần cầu chi, tìm ở nơi nào?”
Tổ sư nói: ‘Nếu có thị phi thì tự tâm rối rít. Khi thuyền chưa chạy thì đã bị ăn gậy rồi’. Thật đáng thương thay! Của báu trong nhà không tự mở ra, mà đến chòi tranh tìm tranh. Chỉ vì một niệm vô minh, tâm cuồng không dứt, ôm đầu chạy đi tìm đầu, nước để trước mặt mà kêu khát. Chư đại đức! Tại sao phải khổ công đến đây? Vì chư vị không muốn phí tiền cho đôi dép rách, nên ta cũng không ngại mở miệng nói!”. Sau đó, Hòa thượng Hư Vân hô to: “Ông già Thích Ca đã đến! Tham quán”. Chư vị trưởng lão cũng ban pháp nhũ, khai thị đại chúng. Môn hạ đệ tử của Hòa thượng Hư Vân là ngài Độ Luân, pháp danh Tuyên Hóa, đối đáp với bà Ananda Jenning.
Năm Dân Quốc thứ ba mươi tám (1949 – 1950), sau khi truyền giới trong mùa xuân tại chùa Nam Hoa, ta trở về Vân Môn, trùng tu toàn bộ điện đường. Sơn phết mạ vàng, làm bàn tọa cho hơn bốn mươi thánh tượng lớn nhỏ. Công trình sửa chữa chánh điện, mái ngói, phòng xá đã hoàn thành chín mươi phần trăm. Cư sĩ Phương Dưỡng Thu thỉnh ta qua Hồng Kông làm lễ khai quang Phật đường. Ta cũng đến tịnh xá Bát Nhã giảng kinh, rồi lưu lại Hồng Kông một tháng. Sau đó, ta trở về núi Vân Môn, nhờ cư sĩ Sầm Học Lữ viết biên sử của núi Vân Môn.
Mytour trích đăng | Nguồn ảnh: Sưu tầm
