
Luận án tiến sĩ đã gửi từ rất lâu
Không nhiều nhà văn như Čapek được đề cử giải Nobel văn học: suốt 7 năm liên tiếp, từ 1932 đến 1938, ông được nhiều giáo sư và tiến sĩ văn học đề cử. Nhưng qua các năm, ông luôn bị loại khỏi danh sách những người nhận giải. Ông được xem là một phần của danh sách các nhà văn không nhận được giải Nobel, bên cạnh Leo Tolstoy, James Joyce, Vladimir Nabokov, Marcel Proust, Jorge Luis Borges. Ông thậm chí thua cả những Ivan Bunin, Luigi Pirandello, hoặc Pearl Buck, đặc biệt là Pearl Buck.
Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Čapek, “Khi loài vật chiến thắng”, cùng với những tác phẩm khác như vở kịch kinh điển “R.U.R” và bộ ba tiểu thuyết “Hordubal,”” Meteor,” “Một Cuộc Sống Bình Thường”, xuất hiện vào năm 1936, đã nhanh chóng được dịch ra tiếng Anh và xuất bản năm 1937 bởi cặp vợ chồng dịch giả nổi tiếng Marie và Robert Weatheral. Trước đó, danh tiếng của Čapek đã vang xa trên khắp châu Âu và thế giới: vở kịch “R.U.R” ra đời năm 1920 của ông đã nhanh chóng được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ và công diễn ở các thành phố lớn như London và New York. “Khi loài vật chiến thắng” của Čapek đã nhận được sự khen ngợi nồng nhiệt từ các nhà phê bình và nhà nghiên cứu. Nhà nghiên cứu Harry Levin đã viết một bài phê bình vào năm 1937 và đưa ra một nhận định chắc chắn: Với “Khi loài vật chiến thắng”, nếu ủy ban Nobel vẫn tiếp tục bỏ qua Čapek thì đó sẽ là một điều rất khó hiểu.
Các giám định, dĩ nhiên, đã bỏ qua Čapek. Nhưng trước khi bỏ qua, họ đã đề nghị ông rằng, sẽ trao giải cho ông, nếu cuốn sách tiếp theo ông viết không quá nhạt nhẽo và vô hại một chút. Một chút ở đây là rất nhiều. Đáp lại lời đề nghị hài hước này, Čapek bảo: tôi đã nộp luận văn tiến sĩ từ lâu rồi. Ông đã hoàn thành luận án tiến sĩ chuyên ngành văn học mỹ học hơn chục năm trước.
Tại sao ủy ban Nobel lại có đề xuất mà có thể coi là vừa đơn giản vừa thời sự này? Rất đơn giản, Čapek bị Gestapo xem là 'kẻ thù nhân dân' – giống như cách Trump xem xét một loạt báo chí. Čapek qua đời năm 1938, chỉ vài tháng sau, khi Anh và Pháp để cho phát xít Đức chiếm Séc, vợ ông bị bắt, anh trai ông cũng bị bắt và chết trong trại tập trung. Uỷ ban Nobel hoàn toàn sợ phát xít. Họ không dám tôn vinh một nhà văn châm biếm và 'gây hấn' với tất cả các loại chủ nghĩa và các chế độ toàn trị. Čapek sáng tạo ra một thể loại văn chương không 'mô phỏng' mà vinh danh ông, đồng nghĩa với việc đồng ý với việc phê bình tội ác của phát xít. Uỷ ban Nobel mong muốn được không ngây thơ như vậy. Không phải ai cũng chịu được sự châm chọc, đặc biệt là với Phát xít.
“Cuộc chiến với loài Dạ xích” – Khi Trò cười thống trị và Sự đột phá của tiểu thuyết
Hoàn toàn không sai khi coi 'Khi loài vật lên ngôi' là một trong những tác phẩm nghệ thuật châm biếm và giễu cợt cao nhất. Việc mô phỏng các phong cách văn chương trong tác phẩm này bắt đầu từ rất sớm, ngay từ những trang đầu của 'Khi loài vật lên ngôi', khi câu chuyện về thuyền trưởng J. van Toch phát hiện ra một loài sa giông sống dưới nước có khả năng đứng bằng chi sau, chi trước bước cầm nắm, có trí tuệ và có khả năng bắt chước và được huấn luyện để làm theo các hoạt động của con người, được ông ta đào tạo trở thành nô lệ săn ngọc trai: những trang viết về hòn đảo xa xôi trên trái đất có dáng vẻ của du ký thời Victoria, với sự kết hợp của đủ các loại ngôn ngữ địa phương và sắc tộc. Chậm rãi, từng bước, việc mô phỏng tăng tốc, theo tốc độ phát triển và lan rộng của loài sa giông. Trong 'Khi loài vật lên ngôi' có một cấu trúc song song giữa sự thăng tiến của sa giông và sự thăng tiến của trò cười.
Được một thuyền trưởng khác, lần này là 'thuyền trưởng của nền công nghiệp,' của đại tư bản đóng tàu Bondy (ở một quốc gia không có bờ biển!) tài trợ tiền để đầu tư cho dự án săn và buôn bán ngọc trai của van Toch, loài sa giông bắt đầu thoát ra khỏi vùng đảo nhỏ hẹp của mình, bị vận chuyển đi khắp nơi trên thế giới, bị nhân giống và phân loại, biến thành công cụ lao động phục vụ cho con người một cách chuyên nghiệp. Trong các kỹ năng, có lẽ quan trọng nhất là việc chúng học được tiếng người (một chi tiết vô cùng quan trọng với ý nghĩa ẩn dụ với nước Séc và việc Čapek quyết định viết bằng tiếng Séc để kiến tạo bản sắc dân tộc, khác biệt hoàn toàn so với lựa chọn của Kafka và tiếng Đức). Chúng bắt đầu có khả năng giao tiếp: đoạn cảnh con Andrew Scheuchzer ở sở thú nhờ đọc báo và giao tiếp với con người hoàn toàn qua những câu chuyện và câu cú, từ ngữ mà nó học được từ báo.
Có thể những trang nổi bật trong 'Khi loài vật lên ngôi' – mà giáo sư Peter Swirski coi là 70 trang xuất sắc nhất từng được xuất bản – là phần thứ hai của cuốn sách. Dưới dạng một bộ sưu tập các tài liệu của ông Povondra về loài sa giông, người trông coi năm nào cho ông Bondy đã mời van Toch vào gặp chủ mình, thu thập được qua nhiều năm, văn bản trưng bày một cách rực rỡ và phô trương rõ ràng tất cả các cải tiến, sáng tạo, và sắp xếp tài tình của tác giả. Khi thì là một bài báo được cắt ra, khi thì là báo cáo và tài liệu khoa học, khi là thông tin được trình bày nhanh chóng, khi là câu chuyện hư cấu, khi thì là ghi chép các luật lệ, khi thì là tuyên ngôn đoàn kết, khi là thì bài tường thuật v.v… Čapek đã thêu dệt nên một tấm thảm kỳ lạ và độc đáo của muôn hình vạn trạng sự nhân bản. Không chỉ nhân bản nội dung của các văn bản đó, Čapek – người từng làm báo thập thành – đã áp dụng tất cả các hình thức của chúng, tạo thành một trò chơi cả về mặt nội dung và thị giác, đánh vào mắt người đọc.
Čapek không phải là người đầu tiên sử dụng thay đổi về font chữ và hình ảnh để tạo ấn tượng về mặt thị giác. James Joyce là người đầu tiên thực hiện điều đó trong Ulysses từ năm 1922 với chương số 7 “Aeolus” khi tiểu thuyết biến thành một tờ báo với các dòng chữ in hoa để mô phỏng tiêu đề còn các dòng chữ in thường để hiển thị nội dung (và ở các chương khác). Nhưng Čapek là người đã đưa việc áp dụng sự thay đổi đó lên một tầm cao mới, không chỉ bằng cách sử dụng font chữ mà còn bằng hình ảnh, biển hiệu, hóa đơn… ở dạng của chúng trong văn bản, và kéo căng thể loại của 'Khi loài vật lên ngôi' một cách tinh tế. Tiếp theo Joyce, Čapek cho thấy nhà văn có thể biến đổi tiểu thuyết đến mức độ nào, có thể làm cho văn bản có khả năng chứa đựng dữ liệu và sáng tạo độc đáo đến đâu. Chính ở Čapek, chúng ta có thể thấy sự khám phá của chủ nghĩa hậu hiện đại, của việc văn bản luôn gợi nhắc người đọc bằng cách cung cấp chỉ dẫn rằng đây chính là “văn bản” chứ không phải là hiện thực. Một trong những điểm đặc biệt nhất trong thư mục đó chính là việc Čapek gán cho các ghi chú một vai trò độc đáo, mà không nghi ngờ gì, những nhà văn lớn sau này đã học theo. Bằng cách tạo ra các ghi chú cho các tài liệu khoa học, các bài báo, Čapek đã biến ghi chú từ một chức năng ngoài văn bản thành một yếu tố tạo ra các giọng mới, các câu chuyện mới, từ việc củng cố cốt truyện chính tới việc xen ngang và làm gián đoạn. Các ghi chú của Čapek tồn tại độc lập và đồng thời tham gia vào việc xây dựng câu chuyện chính, tạo thành một văn bản đa chiều đa thanh bậc nhất.
Các văn bản kết hợp với nhau trong một dòng cuồn cuộn của sự nhân bản, châm biếm không phân biệt đối tượng nào: từ các nhà khoa học, đến báo chí, đến doanh nhân, đến giới văn học, chính trị gia, các loại hiệp hội của phụ nữ, nhân quyền, nhân văn, liên hiệp châu Âu; từ chủ nghĩa khoa học, chủ nghĩa tiêu dùng, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân… Tất cả các loại chủ nghĩa đều có thể soi mình trong “Khi loài vật lên ngôi” và nhận ra mình bị châm biếm trên sân khấu của sự nhân bản: Sa giông kia là ai? là người
Văn chương của phi-cấp và đạo đức: Čapek một nhà văn lập thể
Giáo sư văn chương Peter Swirski coi văn chương của Čapek là một thứ văn chương phi-cấp. Không phải cao cấp, không phải thứ cấp, “Khi loài vật lên ngôi” cùng nhiều tác phẩm khác của Čapek từ chối một cấp bậc được phân loại: Nó là một thứ nghệ thuật cao hòa quyện nhuần nhuyễn với khả năng tạo được tiếng cười và giải trí cho độc giả. Vốn là người tôn vinh cái thường nhật, lại cực kỳ mê truyện trinh thám, đặc biệt là Sherlock Holmes, Čapek coi văn chương phải có khả năng thu hút được độc giả, phải làm cho họ dán mắt vào câu chuyện. Chính vì thế, Čapek tập trung vào những câu chuyện phổ biến thường nhật thường hay xuất hiện trên báo chí, từ chuyện giật gân cướp hiếp giết, đến những mẩu chuyện lẻ tẻ nhưng luôn lấy tâm điểm là con người, với số phận con người trong các tình thế o ép để từ đấy bóc trần bản chất đời sống. Và ông viết bằng một phong cách giải trí hiếm có.
Một khía cạnh khác về Čapek chính vì thế bật lên ở đây: Ông là một trong những nhà văn cực kỳ coi trọng vai trò đạo đức của văn chương và người cầm bút. Điều này thể hiện trong rất nhiều ứng xử đời sống và văn chương của ông: thành công vang dội với vở kịch “R.U.R” nhưng ông nhanh chóng từ bỏ viết kịch để quay sang làm báo, bởi với ông báo chí có khả năng tiếp cận và khai thác những vấn đề trực tiếp liên quan tới đời sống; văn chương với ông không phải để giải trí đơn thuần, mà có giá trị cảnh báo con người về những biến dị khả thể nảy nòi trong những cực đoan của đời sống; ông từ chối chạy khỏi Séc dù đất nước đang có nguy cơ bị Phát xít xâm lược; ông từ chối viết một thứ văn chương nhàm chán vô hại dù cho nó có đem lại cho ông giải thưởng Nobel. Như chính lời Čapek khẳng định trong lời mở đầu của “Khi loài vật lên ngôi”, những gì ông đề cập không phải là một tương lai xa xôi mà chính là hiện thực: “Văn chương mà không quan tâm tới hiện thực và với những gì đang diễn ra trên thể giới, không thể phản ứng được mạnh mẽ hết khả năng của ngôn từ và lý tưởng – thứ văn chương như vậy không phải là thứ tôi quan tâm.”
Những ý tưởng về một thế giới tận thế, sự suy tàn của giống người, vai trò của mỗi cá nhân trong việc đẩy nhân loại tới diệt chủng trong “Khi loài vật lên ngôi” thực ra đã được triển khai từ rất sớm, trong “R.U.R”. Những con robot – người nhân tạo – dưới ách áp bức bóc lột của loài người đã vùng lên quật khởi tiêu diệt con người và chiếm lấy cả trái đất: những hình ảnh ấy không khác gì với loài sa giông, và lời hiệu triệu Hỡi robot toàn thế giới liên hiệp chống lại loài người, vang vọng ở ở phần 3 của “Khi loài vật lên ngôi”, khi sa giông đã dần đánh sụp các lục địa và chiếm hết chỗ sống của loài người – dùng chính các loại bom mà loài người đã cung cấp cho chúng. Vẫn dùng cơ chế kẻ áp bức – kẻ bị áp bức, và mô típ lật nhào cán cân quyền lực, Čapek ở “Khi loài vật lên ngôi” viết một câu chuyện có kết thúc yếm thế hơn hẳn so vở kịch kia. Quan trọng hơn, ở “Khi loài vật lên ngôi”, Čapek đã công kích và tiên tri một cách toàn diện việc nhân loại đắm chìm trong các “chủ nghĩa” sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào. Tránh rơi vào sự cực đoan của một góc nhìn, “một chủ nghĩa”, cũng là tránh sự quá độ dẫn đến góc nhìn méo mó, là điều mà Čapek tìm mọi cách cổ vũ trong tác phẩm của mình.
Čapek, là một nhà văn lập thể, thể hiện góc nhìn đa dạng, mà không dành quyền ưu tiên cho một lý tưởng nào. Phương pháp viết lập thể này thể hiện rất rõ trong tập truyện ngắn “Hoa cúc xanh” nhưng có những câu chuyện được ông kể từ các góc nhìn khác nhau, để cho độc giả thấy cùng một sự việc nhưng qua các lăng kính sẽ dẫn đến những cách ứng xử khác nhau như thế nào. Đây cũng chính là cách mà ông triển khai ở bộ ba tiểu thuyết đề cập ở trên. Ở “Khi loài vật lên ngôi”, độc giả lại chứng kiến sự lên ngôi của cực đoan, không còn nghi ngờ gì nữa, là nguyên nhân dẫn đến lụi tàn.
Sự lập thể của Čapek còn thể hiện tài tình ở lối giễu nhại có khả năng vừa bao trùm vừa chỉ đích danh đối tượng. Vấn đề không chỉ là nhận ra Čapek đang giễu những gì, vấn đề là nhận ra Capek không bị khuôn văn chương của mình vào một cái giễu nhất định: những đối tượng của ông đa dạng, phong cách thì biến ảo, chính là hai yếu tố khiến văn chương của Capek không bị khuôn vào một bộ khung nhất định nào cả. Các giễu nhại của ông liên tục tạo ra nghĩa bằng cách ám chỉ, nhờ thế mà tạo ra các diễn giải vô tận, đó là một thứ văn chương chống lại sự cố định hóa. Tất cả các chủ nghĩa với danh sách kéo dài vô tận đều có dáng hình trong “Khi loài vật lên ngôi” bởi chúng đều chia nhau sự “quá đà” – sự tham lam của con người – mà Čapek đã tóm gọn.
Văn chương của Čapek vì thế có khả năng từ chối bị xếp hạng, bị phân loại: nó từ chối mọi dán nhãn.
Hành trình của tôi
Theo Bên phía nhà Z
