
Mặc dù là xu hướng, nhưng người tiêu dùng chưa sẵn lòng chi tiền cho các sản phẩm xanh, trong khi các nhà đầu tư vẫn chưa quan tâm do lợi nhuận thấp, khiến cho các startup trong lĩnh vực này vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường.

Con đường 'xanh'... còn rất xa
Sau một vài năm nỗ lực nghiên cứu và phát triển thành công sản phẩm máy lọc không khí 'Made in Vietnam' với công nghệ lọc hiện đại, giá thành phải chăng, nhưng người sáng lập startup vẫn đối mặt với tình trạng kém sinh lời, thậm chí không biết bao giờ mới hòa vốn.
Về phần bán hàng, việc đưa ra thị trường một thương hiệu mới trong lĩnh vực đã có nhiều đối thủ lớn là một thách thức lớn. Để quảng bá và tiếp thị đến khi người tiêu dùng nhận ra sản phẩm, startup phải bỏ ra nhiều tiền, điều này càng trở nên khó khăn hơn trong bối cảnh nguồn vốn hạn hẹp.
Về việc huy động vốn, trong thời kỳ phát triển, các startup với ý tưởng mới dễ dàng thu hút vốn từ các quỹ đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trong thời kỳ 'cạn tiền', việc tìm kiếm nguồn vốn và kết nối với các nhà đầu tư càng trở nên khó khăn hơn.
“Thường xuyên chúng tôi nghe các quỹ đầu tư ưa thích startup xanh, nhưng khi chúng tôi đi gọi vốn, phần lớn các quỹ từ chối. Đầu tư vào sản phẩm xanh có nghĩa là thời gian thu hồi vốn kéo dài, lợi nhuận cũng thấp hơn nhiều lĩnh vực khác”, người sáng lập startup máy lọc không khí nói.
Theo ông Dương Anh, Đồng Sáng lập của Airx Carbon, công ty cung cấp sản phẩm nhựa sinh học, với một startup, áp lực cạnh tranh với các “anh lớn” là phải luôn cung cấp một sản phẩm mới phải tốt hơn, đẹp hơn, rẻ hơn thì khách hàng mới lựa chọn.
Vì vậy, Airx Carbon quyết định đầu tư vào công nghệ vì họ tin rằng chỉ khi đầu tư đủ lớn, đủ sâu vào công nghệ mới có thể tạo ra sản phẩm tốt hơn với chi phí cạnh tranh hơn.
Ngoài ra, việc quan trọng là phải hiểu rõ vị trí của khách hàng. Ví dụ, tại thị trường Việt Nam hoặc Đông Nam Á, các startup xanh sẽ gặp khó khăn hơn vì người tiêu dùng chưa sẵn lòng chi trả nhiều hơn cho sản phẩm xanh. Nhưng ở các thị trường phát triển, tình hình lại khác.
“Khách hàng của chúng tôi chủ yếu ở châu Âu, Mỹ, Nhật... những thị trường mà đã có luật quy định rõ ràng về sử dụng sản phẩm, và hàm lượng hữu cơ càng cao thì thuế càng giảm. Chúng tôi nhắm đến những thị trường đó”, ông Dương Anh nói.
Bà Đinh Thị Lan Anh, Giám đốc phát triển kinh doanh của PVA Pro, startup sản xuất túi polymer phân hủy trong nước, vừa nhận được 1 triệu USD vốn đầu tư, cũng thừa nhận rằng các sản phẩm xanh thường gặp khó khăn về giá cả và thói quen của người tiêu dùng. Do đó, chìa khóa để một startup tồn tại chính là sự kiên nhẫn.
“Kiên nhẫn tiến bộ trong công nghệ sản xuất để tạo ra sản phẩm tốt hơn, giá cả hợp lý hơn. Kiên nhẫn lắng nghe ý kiến của khách hàng, truyền đạt thông điệp tích cực về sản phẩm. Kiên nhẫn duy trì doanh nghiệp không sa vào tình trạng chán chường”, bà Lan Anh nói.
Chỉ có sản phẩm không đủ

Chia sẻ về lý do các startup gặp khó khăn trong việc huy động vốn, bà Lê Hoàng Uyên Vy, Giám đốc điều hành của quỹ đầu tư Do Ventures, cho biết các nhà đầu tư hiện nay đều tập trung vào các chỉ số tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp. Bền vững ở đây không chỉ là về sản phẩm, mà còn là về mô hình kinh doanh, cấu trúc chi phí hoạt động để đánh giá xem các startup có thể hoạt động một cách có hệ thống, tiến xa và hướng tới tăng trưởng dài hạn không.
Khảo sát của PwC cho thấy gần 80% nhà đầu tư được hỏi cho rằng ESG là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư; gần 70% tin rằng các yếu tố ESG cần có trong phần thưởng của ban lãnh đạo; 50% có xu hướng rút vốn nếu công ty không có hành động cụ thể về các vấn đề ESG.
Như vậy, các bên ngày càng thể hiện rõ quan điểm về thực hiện ESG, tuy nhiên họ ngày càng đặt ra kỳ vọng ngày càng cao cho doanh nghiệp, không chỉ trong sản phẩm, mà còn trong việc triển khai kinh doanh bền vững và công bố các thông tin phi tài chính một cách minh bạch.
Đặc biệt các yếu tố ESG ngày càng được chú trọng khi định giá doanh nghiệp. Trong thập kỷ 1975-1985, tài sản vật chất (vốn tài chính, tài sản vật chất) trong Giá trị thị trường của các công ty S&P 500 luôn chiếm từ 68-83%, theo Ocean Tomo. Nhưng hiện nay, tài sản vô hình đang chiếm đến 80-90%.
Các tài sản vô hình bao gồm giá trị thương hiệu, uy tín, nghiên cứu và phát triển, sự hài lòng của khách hàng, an toàn và sức khỏe, tác động đến môi trường, các giấy phép, quản trị và mối quan hệ lao động.
Có thể thấy, chỉ có sản phẩm xanh là không đủ để một startup hoàn thiện mô hình kinh doanh hướng tới ESG. Đó là lý do tại sao sở hữu sản phẩm xanh nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc huy động vốn.
