Trong quá trình phát triển ô tô, có nhiều nguồn năng lượng thay thế được áp dụng, nhưng không phải lúc nào cũng đạt được thành công.
Xe chạy bằng năng lượng hạt nhân có thể đi được 8.000 km.
Ford đã ra mắt một mẫu xe có tên 'Ford Nucleon' vào năm 1957. Đây là một ý tưởng về ô tô sử dụng năng lượng hạt nhân, với một lò phản ứng nhỏ được gắn trên xe, sử dụng nhiệt và hơi nước từ phản ứng hạt nhân để chạy tuabin. Ford nói rằng nếu lò phản ứng hạt nhân được kích hoạt, xe có thể đi được tới 8.000 km mà không cần nhiên liệu hạt nhân thêm.

Hình mô hình xe chạy bằng năng lượng hạt nhân của Ford, mẫu xe Nucleon có một lò phản ứng hạt nhân ở phía sau, giống như tàu ngầm hạt nhân nhưng nhỏ hơn. Ảnh: QCTT
Các mẫu xe chạy bằng năng lượng hạt nhân sau đó cũng được Hoa Kỳ thử nghiệm. Hãng xe Cadillac giới thiệu khái niệm 'nhiên liệu tritium' để kỷ niệm 100 năm thành lập. Lò phản ứng hạt nhân này sử dụng triti được chiết xuất từ đất hiếm và có thể sử dụng trong 100 năm sau mỗi lần bơm nhiên liệu.
Tuy nhiên, cả hai mẫu xe này chỉ là ý tưởng và mô hình. Việc sử dụng chất liệu phóng xạ trong ngành công nghiệp tư nhân vào thời điểm đó rất khó khăn và cần có sự quản lý liên tục. Do đó, những mẫu xe này chỉ tồn tại trên giấy.
Xe hoạt động bằng hơi nước
Chiếc ô tô đầu tiên sử dụng động cơ hơi nước được phát minh vào năm 1769 bởi kỹ sư Nicolas-Joseph Cugnot người Pháp - chỉ 4 năm sau khi James Watt phát minh ra động cơ hơi nước. Ô tô này được thiết kế để kéo pháo cho Quân đội Pháp, nặng lên đến 3,9 tấn, nhưng tốc độ chỉ đạt 4 km/h.

Ảnh: QCTT
Tuy nhiên, xe này có nhược điểm rõ ràng như tốc độ thấp (4 km/h), dung tích nồi hơi nhỏ, quãng đường lái ngắn, thiếu hệ thống phanh và không thể dừng lại linh hoạt. Vì những lý do này, chiếc ô tô hơi nước của Quinio được gọi là 'chiếc ô tô gây tai nạn giao thông đầu tiên trên thế giới'.
Sau khi động cơ xăng được phát minh, công nghệ động cơ hơi nước suy giảm nhưng vẫn được sử dụng đến thế kỷ 20. Một trong những tiêu biểu là công ty 'Doble' ở Hoa Kỳ, sản xuất ô tô chạy bằng hơi nước từ năm 1931. Xe này sử dụng nồi hơi dầu hỏa thay vì động cơ, đạt tốc độ ổn định 110 km/h và tốc độ tối đa 191 km/h.
Xe chạy bằng than hoặc củi
Trong quá khứ, có loại ô tô được gọi là 'xe khí than' sử dụng than hoặc củi như nguồn nhiên liệu. Điều này là quá trình thu khí từ việc đốt củi và đưa vào xi lanh động cơ.

Xe chạy bằng than củi đã xuất hiện từ năm 1901, nhưng phát triển mạnh mẽ nhất trong Thế chiến II. Trong trường hợp thiếu nhiên liệu, bất kỳ chất cháy nào cũng có thể làm nhiên liệu cho xe. Đến năm 1945, ở Đức đã có 500.000 xe chạy bằng than củi.
Nhược điểm của xe này rõ ràng: nhiên liệu tạo ra khí ga không đồng đều và không đạt hiệu suất cao, xe trở nên lớn hơn do thiết bị xử lý khí, và phát thải gây ô nhiễm.
Cũng có sử dụng 'rượu' (methanol, ethanol) và benzen làm nhiên liệu cho ô tô.

Nếu động cơ máy bay được đặt trong ô tô, chiếc Mercedes-Benz T80 có thể đạt tốc độ lên tới 750 km/h, nhưng do chiến tranh, dự án này không được thực hiện.
Chrysler từng ra mắt chiếc 'Xe Turbo' vào năm 1963, sử dụng động cơ tuabin phản lực máy bay với công suất cực đại 130 mã lực.

Xe turbo có nhiều ưu điểm lớn như có thể sử dụng nhiều loại nhiên liệu khác nhau và khởi động ở nhiệt độ âm, nhưng cũng có nhược điểm là tiếng ồn lớn và chi phí sản xuất cao.
Nhược điểm của xe turbo là tiếng ồn lớn và chi phí sản xuất cao, dẫn đến chưa thể thương mại hóa.
Tham khảo: QCTT
