Khu dự trữ sinh quyển thế giới là danh hiệu của UNESCO dành cho các khu bảo tồn thiên nhiên với hệ động thực vật phong phú và độc đáo. Theo định nghĩa của UNESCO, Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực sinh thái bờ biển hoặc trên cạn hỗ trợ việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực đó với giá trị quốc tế nổi bật.
Mạng lưới
Mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới được thiết lập vào năm 1976 và tính đến năm 2010 đã có 504 khu thuộc 102 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các quốc gia có số lượng khu DTSQ nhiều nhất là Hoa Kỳ (47), Nga (37), Tây Ban Nha (33) và Trung Quốc (26).
Để được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, các quốc gia cần tuân thủ các hiệp định, công ước và cam kết quốc tế mà chính phủ của họ đã ký kết.
Tiêu chí
Theo Điều 4 của Khung Pháp lý Mạng lưới Khu DTSQ thế giới, được thông qua tại Đại hội đồng UNESCO năm 1995, có 7 tiêu chí để một khu vực được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, bao gồm:
- Khu vực đề cử phải đại diện cho sự đa dạng các hệ sinh thái trong các khu vực sinh vật chính, bao gồm cả những khu vực bị tác động ở mức độ khác nhau bởi con người.
- Khu vực đó phải có giá trị cao trong việc bảo tồn đa dạng sinh học.
- Khu dự trữ sinh quyển phải có khả năng phát triển bền vững ở cấp độ vùng.
- Khu dự trữ cần có diện tích đủ lớn để đáp ứng ba chức năng cơ bản của khu dự trữ sinh quyển.
- Khu vực đó phải có các phân vùng phù hợp cho ba chức năng của khu dự trữ sinh quyển: (a) vùng lõi có diện tích lớn, được bảo vệ theo pháp luật hoặc dành riêng cho bảo tồn lâu dài; (b) vùng đệm rõ ràng, bao quanh hoặc kết nối với vùng lõi, phục vụ các hoạt động phù hợp với bảo tồn; (c) vùng chuyển tiếp để khuyến khích và phát triển các hoạt động quản lý và sử dụng tài nguyên bền vững.
- Cần có các cơ cấu quản lý để thu hút sự tham gia của nhiều bên liên quan, bao gồm chính quyền địa phương, cộng đồng và khu vực tư nhân trong việc thiết kế và thực hiện các chức năng của khu dự trữ sinh quyển.
- Cơ chế quản lý và bảo tồn phải được UNESCO công nhận, bao gồm: (a) các cơ chế quản lý hoạt động và khai thác của con người tại vùng đệm; (b) có chính sách hoặc kế hoạch quản lý cho toàn khu dự trữ sinh quyển; (c) có cơ chế hoặc đội ngũ quản lý thực hiện chính sách hoặc kế hoạch đó; (d) có các chương trình nghiên cứu, quan trắc, giáo dục và đào tạo.
Các thành phần
Khu dự trữ sinh quyển được phân chia thành ba khu vực chính:
- Vùng lõi: Được bảo vệ để duy trì lâu dài sự đa dạng loài, các cảnh quan và hệ sinh thái.
- Vùng đệm: Bao quanh hoặc tiếp giáp với vùng lõi. Tại đây, có thể thực hiện các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí mà không ảnh hưởng đến vùng lõi.
- Vùng chuyển tiếp: Vùng ngoài cùng, nơi các hoạt động kinh tế diễn ra bình thường với sự chú trọng vào việc phát triển bền vững các tài nguyên thiên nhiên của khu dự trữ sinh quyển.
Những điểm khác biệt
Khu dự trữ sinh quyển thế giới có những đặc điểm tương đồng và khác biệt so với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như sau:
- Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên chỉ là một phần của khu dự trữ sinh quyển. Một khu dự trữ sinh quyển có thể bao gồm nhiều vùng lõi, mỗi vùng có thể là vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên.
- Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên chỉ thực hiện chức năng bảo tồn trong khi khu dự trữ sinh quyển không chỉ bảo tồn mà còn hỗ trợ phát triển (kinh tế, văn hóa, du lịch sinh thái...) và nghiên cứu khoa học, giáo dục.
- Khu dự trữ sinh quyển đại diện cho một cách tiếp cận bảo tồn và phát triển bền vững tương đối mới (bắt đầu từ năm 1971), so với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, vốn tập trung vào bảo tồn đa dạng sinh học và đã có lịch sử lâu dài.
- Khu dự trữ sinh quyển thế giới được quản lý bởi Ủy ban MAB của UNESCO, trong khi các khu bảo vệ (PA) được quản lý bởi IUCN.
Hình ảnh







Ý nghĩa
Trước đây, các khu bảo tồn thiên nhiên thường được coi là những khu vực tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Quan điểm này đã dẫn đến nhiều vấn đề trong việc quản lý các khu bảo tồn, khiến thiên nhiên tiếp tục bị tác động tiêu cực từ con người, do các áp lực xã hội và sinh thái. Theo Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) thuộc UNESCO, cần có những khu vực gọi là 'vùng lõi' với sự kiểm soát nghiêm ngặt, không bị ảnh hưởng bởi con người. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển kinh tế thân thiện với môi trường, giáo dục và bảo tồn văn hóa truyền thống ở các 'vùng đệm' xung quanh, nơi người dân địa phương đóng vai trò quan trọng để đảm bảo bảo tồn hiệu quả và bền vững.
Khái niệm khu dự trữ sinh quyển lần đầu được MAB giới thiệu tại hội nghị khoa học ‘Sử dụng hợp lý và bảo tồn tài nguyên Sinh quyển’ ở Paris vào tháng 9 năm 1968, với sự tham gia của 236 đại biểu từ 63 quốc gia và 88 đại diện của các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ cùng các nhà quản lý và ngoại giao. Hội nghị này, sau này được gọi là 'Hội nghị Sinh quyển', được tổ chức bởi UNESCO với sự hỗ trợ của Tổ chức Lương thực, Tổ chức Y tế Thế giới, các tổ chức bảo tồn và các chương trình sinh học quốc tế thuộc Hội đồng Khoa học Quốc tế (IBP/ICSU).
Mục tiêu của việc thiết lập Khu dự trữ sinh quyển là gì?
Việc tạo dựng khu dự trữ sinh quyển nhằm giải quyết một trong những vấn đề quan trọng nhất hiện nay: làm thế nào để cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế-xã hội và duy trì các giá trị văn hóa truyền thống. Mô hình khu dự trữ sinh quyển không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn là công cụ thực hiện nghiên cứu về tác động qua lại giữa con người và sinh quyển, dựa trên phương pháp luận rằng: 'Con người là một phần của sinh quyển' và 'Công dân sinh thái'. Thuật ngữ 'Sinh quyển' đã trở nên phổ biến toàn cầu, thường được nhắc đến tại hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường ở Stockholm năm 1972, khi đánh giá các vấn đề môi trường một cách toàn diện. Các nhà khoa học đồng ý rằng việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cần kết hợp với phát triển kinh tế để nâng cao đời sống người dân.
Vào năm 1969, Ban Tư vấn Khoa học của MAB đã đề xuất thành lập mạng lưới hợp tác toàn cầu, bao gồm vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển và các hình thức bảo tồn khác nhằm thúc đẩy bảo tồn và nghiên cứu, giáo dục, đào tạo. Mạng lưới này có ba chức năng chính: bảo tồn đa dạng di truyền, loài và hệ sinh thái; hỗ trợ nghiên cứu, giám sát, giáo dục và trao đổi thông tin về bảo tồn và phát triển bền vững; kết hợp bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế để nâng cao chất lượng cuộc sống, là yếu tố then chốt cho sự thành công của bảo tồn. Khu dự trữ sinh quyển sẽ hoạt động như một phòng thí nghiệm sống cho nghiên cứu, giáo dục và giám sát các hệ sinh thái, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, quốc gia và quốc tế.
Khu dự trữ sinh quyển toàn cầu tại Việt Nam

- Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, năm 2000.
- Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, năm 2004.
- Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, năm 2004.
- Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang, năm 2006.
- Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An, năm 2007.
- Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, năm 2009.
- Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, năm 2009.
- Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, năm 2011.
- Khu dự trữ sinh quyển Langbiang, năm 2015.
- Khu dự trữ sinh quyển Núi Chúa, năm 2021.
- Khu dự trữ sinh quyển Kon Hà Nừng, năm 2021.
Các khu vực đang được đề xuất
- Khu dự trữ sinh quyển Hoàng Liên Sơn: nằm ở hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu với ba vùng lõi là Vườn quốc gia Hoàng Liên, khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn và khu rừng đặc dụng Y Tý.
- Khu dự trữ sinh quyển Mù Căng Chải: bao gồm hai huyện Văn Yên và Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái, với hai vùng lõi là Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và khu bảo tồn loài & sinh cảnh Mù Căng Chải. Khu vực này còn nổi bật với văn hóa bản địa và ruộng bậc thang Mù Căng Chải.
- Khu dự trữ sinh quyển Cúc Phương - Ngọc Sơn - Pù Luông: trải dài trên ba tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa.
- Khu dự trữ sinh quyển cửa sông Cửu Long: nằm ven biển ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng.
- Khu dự trữ sinh quyển Ngọc Linh (hoặc Kon Tum): bao gồm huyện Kon Plong và Dak Glei, tỉnh Kon Tum, với vùng lõi là khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh.
- Khu dự trữ sinh quyển Ba Bể: nằm ở hai tỉnh Bắc Kạn và Tuyên Quang, với các vùng lõi là Vườn quốc gia Ba Bể và khu rừng cấm Tát Kẻ-Bản Bung (khu dự trữ thiên nhiên Na Hang).
- Danh sách các khu dự trữ sinh quyển tại châu Á và Thái Bình Dương
- Danh sách các khu dự trữ sinh quyển ở các nước Ả Rập
- Danh sách các khu dự trữ sinh quyển tại châu Phi
- Danh sách các khu dự trữ sinh quyển tại châu Âu và Bắc Mỹ
- Danh sách các khu dự trữ sinh quyển tại châu Mỹ Latin và Caribê
- Danh hiệu UNESCO tại Việt Nam
Chú thích
Liên kết ngoài
- Hệ thống khu dự trữ sinh quyển toàn cầu – Các địa điểm học tập cho phát triển bền vững, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
- Hệ thống khu dự trữ sinh quyển thế giới: Lưu trữ thông tin từ 2009-12-13 tại Wayback Machine
- Quản lý nhà nước đối với các khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam: Ai là cơ quan phụ trách chính?
- 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam: Hiện chưa có cơ quan Trung ương nào quản lý Lưu trữ từ ngày 2009-12-01 tại Wayback Machine

Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam | ||
|---|---|---|
| Miền Bắc |
| |
| Miền Trung |
| |
| Miền Nam |
| |
