
|
Krông Pa
|
|||
|---|---|---|---|
| Huyện | |||
| Huyện Krông Pa | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | Việt Nam | ||
| Vùng | Tây Nguyên | ||
| Tỉnh | Gia Lai | ||
| Huyện lỵ | thị trấn Phú Túc | ||
| Trụ sở UBND | 45 Trần Hưng Đạo, thị trấn Phú Túc | ||
| Phân chia hành chính | 1 thị trấn, 13 xã | ||
| Thành lập | tái lập ngày 23/4/1979 | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: | |||
| |||
| Diện tích | 1.628 km² | ||
| Dân số (2023) | |||
| Tổng cộng | 91.967 người | ||
| Thành thị | 12.810 người | ||
| Mật độ | 53 người/km² | ||
| Dân tộc | Kinh, Gia Rai | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 637 | ||
| Biển số xe | 81-N1 | ||
| Số điện thoại | 0269.3.853.410 | ||
| Website | krongpa | ||
Krông Pa là một huyện thuộc tỉnh Gia Lai, nằm ở miền Trung Việt Nam.
Vị trí địa lý
Tên gọi của huyện được lấy từ hai con sông lớn: sông Krông Năng và sông Pa, đặc trưng cho vùng đất miền Trung Việt Nam.
Vị trí địa lý
Huyện Krông Pa tọa lạc ở phía đông nam tỉnh Gia Lai, với diện tích 1.628 km² và dân số khoảng 91.967 người vào năm 2023. Trung tâm hành chính của huyện là thị trấn Phú Túc, cách thành phố Pleiku khoảng 150 km về phía đông nam. Huyện nằm trong khoảng tọa độ từ 12°58'B đến 13°33'Đ, và từ 108°26'Đ đến 108°49'Đ.
Địa giới hành chính của huyện bao gồm:
- Phía đông giáp các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa và Sông Hinh thuộc tỉnh Phú Yên
- Phía tây giáp thị xã Ayun Pa
- Phía nam giáp huyện Ea Kar và tây nam giáp huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
- Phía bắc giáp huyện Ia Pa.
Tọa lạc ở độ cao trung bình 140 m so với mực nước biển, huyện Krông Pa là một điểm quan trọng trên quốc lộ 25, nối liền đồng bằng ven biển miền Trung với cao nguyên Plây Ku. Quốc lộ 25, từng được gọi là Đường 7 – Sông Bờ, kết nối thị trấn Phú Túc, nằm giữa hai con sông thơ mộng: tả ngạn sông Ba và hữu ngạn sông Mlah. Từ đây, bạn có thể đi về phía đông 80 km để đến thành phố Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên) hoặc lên phía tây qua đèo Tô Na để đến thị xã Ayun Pa (tỉnh Gia Lai) và tiếp tục vào miền cao nguyên Chư sê - Mỹ Thạch - Plây Ku.
Địa hình và khí hậu
Theo nghiên cứu địa chất, huyện Krông Pa nằm trong vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc với cấu tạo địa chất đa dạng, chủ yếu là đất bồi tích phù sa và trầm tích hỗn hợp. Địa hình chủ yếu là đồng bằng tích tụ và bóc mòn, với các dạng địa hình bậc thềm và bãi bồi chiếm ưu thế. Mặc dù quá trình tích tụ ở đây không phong phú như ở Cheo Reo, nhưng vùng đất vẫn bao gồm cả đồi núi sót và đồng bằng. Các thung lũng theo sông suối khá bằng phẳng và ít bị chia cắt, phủ lớp phù sa cũ và mới.
Ngoài các vùng trũng, phía đông nam của huyện có hai dãy núi cao: Chu Dju cao 1.230 m và Chu Dlé Ya cao 1.215 m. Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, với những đường lượn sóng mạnh và chia cắt sâu.
Khí hậu huyện Krông Pa mang đặc trưng nhiệt đới hơi khô, với sự bảo vệ của địa hình núi che chắn gió từ đông và tây nam, tạo ra sự khác biệt so với các khu vực khác ở Gia Lai và Tây Nguyên. Huyện có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trong mùa khô, thường có 4 tháng khô hạn. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.200 mm, với độ ẩm trung bình 83%. Tháng 9 là tháng mưa nhiều nhất, còn các tháng cuối mùa khô thường nắng nóng và lượng nước bốc hơi cao, trung bình 96 mm/năm.
Mật độ sông suối ở huyện không cao. Huyện được chia thành hai khu vực bởi dòng sông Ba, chảy từ tây bắc về đông nam. Đây là hệ thống sông lớn ở phía đông Trường Sơn, bắt nguồn từ dãy núi Kông Ka King, tỉnh Kon Tum, chảy qua các huyện Kbang, An Khê, Kông Chro, IaPa, Ayun Pa và Krông Pa tỉnh Gia Lai, rồi tiếp tục về tỉnh Phú Yên và đổ ra biển Đông với hệ thống chi lưu và phụ lưu phong phú. Các nhánh chính của sông Ba bao gồm sông Ayun, hợp lưu với sông Ba tại thị xã Ayun Pa, sông Krông Năng chảy vào sông Ba tại xã Krông Năng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, và sông Hinh tại tỉnh Phú Yên. Phía bắc huyện còn có hệ thống các sông Ea Rsai, Ea Mlah, Ea Kà Lúi. Ở phía nam, có sông Krông Năng và Ea Uôr (Uar). Hệ thống sông suối tạo nên những vùng soi nà và bãi bồi ven sông với đất đai màu mỡ từ Ơi Nu đến buôn Tờ Khế, Ia Rsai, xuống vùng Ma Rôk xã Chư Gu, vùng Phú cần, Chư Ngọc, IaRMok, IaHDreh, Krông Năng; và vùng Quang Hiển xã Đất Bằng,... thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Sông ngòi, thác ghềnh, và suối nhỏ
Mật độ sông suối tại huyện Krông Pa không dày đặc. Huyện được chia thành hai khu vực phía bắc và nam bởi dòng sông Ba (phần thượng lưu gọi là EaPa, IaPa, và phần hạ lưu thuộc tỉnh Phú Yên gọi là sông Đà Rằng). Đây là hệ thống sông lớn ở phía đông Trường Sơn và cũng là sông lớn nhất vùng ven biển trung Trung bộ; chảy theo hướng Bắc - Nam và chuyển hướng Tây bắc - Đông nam khi qua huyện Krông Pa, rồi tiếp tục vào tỉnh Phú Yên theo hướng Tây - Đông. Sông Ba có lưu vực 13.900 km², lưu lượng 18.264 m³/s, chiều dài 388 km, bắt nguồn từ núi Ngọc Rô, vùng Kông Ka King, tỉnh Kon Tum, chảy qua các huyện Kon Plông, Kbang, Đăk Pơ, An Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa và Krông Pa tỉnh Gia Lai, về tỉnh Phú Yên rồi đổ ra biển Đông qua cửa sông Đà Diễn. Các nhánh chính của sông Ba gồm sông Ayun, hợp lưu với sông Ba tại thị xã Ayun Pa, phụ lưu sông Krông H'Năng chảy vào sông Ba ở xã Krông Năng, và phụ lưu sông Hinh tại tỉnh Phú Yên. Phía bắc huyện có các sông Ia Rsai, Ia Mlah, Ia Kà Lúi. Phía nam có Krông Năng và Ia Uôr (Uar). Hệ thống sông suối như suối EaDjip, EaUt, EaUr, EaTral ở phía tây, tây nam của huyện, suối EaSai, EaKia ở phía bắc, tây bắc huyện, suối EaPua phía đông bắc, tạo ra các vùng soi nà và bãi bồi ven sông, với đất đai màu mỡ từ Ơi Nu đến Uar, ChưDrang, EahDreh, Krong Năng phía tây nam, cho đến buôn Tờ Khế, Ia Rsai xuống vùng Ma Rôk xã Chư Gu, vùng IaMlah, và vùng Quang Hiển xã Đất Bằng,... thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi.
Thác nằm ở suối Ea Ur, nhánh Ea Ut với lưu vực gần 4.000 ha, xuất phát từ các đỉnh núi Chư Dou, Chư Tion, Chư MuaYe thuộc xã Ia RMok và một phần ChưDrang; thác nằm ở địa phận xã Ia RMok. Tạm gọi là Thác Cao hùng, với ba tầng cao khoảng 100 mét.
Hành chính
Huyện Krông Pa bao gồm 14 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có thị trấn Phú Túc (là huyện lỵ) và 13 xã khác: Chư Gu, Chư Ngọc, Chư Drăng, Chư Rcăm, Đất Bằng, Ia HDreh, Ia Mlăh, Ia RMok, Ia RSai, Ia RSươm, Krông Năng, Phú Cần, và Uar.
Lịch sử
Tên gọi của huyện Krông Pa được lấy từ tên của dòng sông Ba.
Trước năm 1945
Vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ hai sau công nguyên, vùng trũng Krông Pa, nơi cư trú của người Jrai, từng thuộc vương quốc Champa. Dấu vết còn lại hiện nay là phế tích tháp Chăm, được người dân địa phương gọi là Bang Keng, nằm ở Krông Năng.
Sau khi Vương quốc Champa bị chinh phục năm 1471, Lê Thánh Tông đã đặt tên toàn bộ khu vực phía tây Nam Trung Bộ là Nam Bàn. Tuy nhiên, thực tế thì Tây Nguyên, trong đó có Krông Pa, vẫn là nơi sinh sống của các dân tộc với tổ chức xã hội chủ yếu là các làng độc lập. Trước thế kỷ XX, Krông Pa còn có một tổ chức xã hội cao hơn, ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn, gọi là Tơring (tring).
Đầu thế kỷ XX, Tây Nguyên thuộc quyền bảo hộ của Pháp. Từ năm 1904-1907, Cheo Reo, một phần của tỉnh Phú Yên, đã được tách ra theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 4 tháng 7 năm 1905 để thành lập tỉnh Pleiku Đer, bao gồm cả Krông Pa.
Gần hai năm sau, vào ngày 25 tháng 4 năm 1907, nghị định của Toàn quyền Đông Dương đã bãi bỏ tỉnh Pleiku Đer. Vùng đất trước đây thuộc tỉnh Pleiku Đer được chia thành hai phần: một phần sáp nhập vào đại lý hành chính Kon Tum (bao gồm Pleiku) và trở lại tỉnh Bình Định dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định, phần còn lại thành lập đại lý hành chính Cheo Reo, sáp nhập vào tỉnh Phú Yên và đặt dưới quyền cai trị của Công sứ Phú Yên.
Vào ngày 9 tháng 2 năm 1913, Toàn quyền Đông Dương đã ban hành Nghị định số 215, thành lập tỉnh Công Tum (Kon Tum). Tỉnh Kon Tum bao gồm đại lý hành chính Cheo Reo (bao gồm cả Krông Pa) tách ra từ tỉnh Phú Yên, đại lý Kon Tum tách ra từ tỉnh Bình Định (toàn bộ tỉnh Pleiku Đer cũ) và đại lý Đăk Lăk (trước đây là tỉnh Đăk Lăk nhưng đến nghị định này lại được đổi thành đại lý).
Ngày 2 tháng 7 năm 1923, chính quyền Pháp tiếp tục tách đại lý Đăk Lăk khỏi tỉnh Kon Tum để thành lập tỉnh Đăk Lăk mới.
Ngày 24 tháng 5 năm 1925, đại lý hành chính Pleiku được thành lập và thuộc sự quản lý của Công sứ Kon Tum.
Vào ngày 24 tháng 5 năm 1932, theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương, một phần đất ở phía nam tỉnh Kon Tum, bao gồm đại lý Pleiku và Cheo Reo, được tách ra để thành lập tỉnh Pleiku.
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Cheo Reo là một trong năm huyện, thị thuộc tỉnh Pleiku. Khu vực nằm ở phía đông của huyện Cheo Reo (nay là Krông Pa) được gọi là Mlah.
Giai đoạn (1946-1954)
Ngày 25 tháng 6 năm 1946, Pháp tái chiếm Gia Lai và giữ nguyên tên tỉnh là Pleiku.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng đổi tên tỉnh thành Gia Lai. Huyện Cheo Reo trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Gia Lai. Từ tháng 3 năm 1946, Cheo Reo được quản lý trực tiếp bởi Ban vận động Quốc dân thiểu số Tây Nam Trung Bộ.
Vào ngày 6 tháng 11 năm 1947, theo Quyết định số 51/TB-NĐ của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ, Cheo Reo được tách khỏi tỉnh Gia Lai và chuyển giao cho Phân ban liên lạc hành chính Tây Nguyên thuộc Khu 15.
Đến tháng 8 năm 1948, theo Quyết định số 203-ĐD/CP của Đại diện Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ, Cheo Reo được đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Đăk Lăk.
Ngày 30 tháng 5 năm 1953, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ ban hành Nghị định số 477-MN/TOC, chia huyện Cheo Reo thành hai huyện thuộc tỉnh Đăk Lăk: Đông Cheo Reo (huyện H2, nay là huyện Krông Pa) gồm các xã ở phía đông và phía bắc sông Ba, và Tây Cheo Reo (H3) gồm các xã phía tây sông Ba.
Giai đoạn (1954-1975)
- Về phía chính quyền Sài Gòn
Theo Nghị định số 549 ngày 3 tháng 10 năm 1958, quận Cheo Reo bao gồm 10 tổng và 2 xã, và là một trong bốn quận thuộc tỉnh Pleiku.
Đến ngày 22 tháng 12 năm 1959, theo Nghị định số 1746 của chính quyền Sài Gòn, quận Cheo Reo được tổ chức lại thành 6 tổng và 19 xã.
Ngày 1 tháng 9 năm 1962, theo Sắc lệnh số 186 của chính quyền Sài Gòn, một phần đất thuộc Cheo Reo ở phía nam tỉnh Pleiku, cùng với một phần phía bắc tỉnh Đăk Lăk (huyện Thuần Mẫn), được tách ra để thành lập tỉnh Phú Bổn. Tỉnh này bao gồm các quận: Phú Túc (nay là huyện Krông Pa), Phú Thiện (nay là thị xã Ayun Pa, huyện Phú Thiện và huyện Ia Pa), huyện Thuần Mẫn (nay thuộc huyện Ea H’Leo tỉnh Đăk Lăk) và thị xã Hậu Bổn (trước là thị trấn Cheo Reo). Tỉnh lỵ của Phú Bổn đặt tại thị xã Hậu Bổn và không thay đổi cho đến tháng 3 năm 1975.
Từ năm 1962 cho đến khi giải phóng vào tháng 3 năm 1975, huyện Krông Pa hiện tại được gọi là quận Phú Túc thuộc tỉnh Phú Bổn. Quận Phú Túc được chia thành hai tổng: Tổng Phú Mỹ và tổng Đức Bính, với tổng cộng 13 xã.
- Về phía chính quyền cách mạng
Trong thời kỳ kháng chiến, khu vực Cheo Reo (bao gồm các huyện Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa và thị xã Ayun Pa ngày nay) vẫn thuộc tỉnh Đăk Lăk. Khu vực này được chia thành hai huyện: huyện Đông Cheo Reo (H2) và huyện Tây Cheo Reo (H3). Đầu năm 1960, tỉnh Đăk Lăk được chia thành bốn đơn vị là B3, B4, B5 và B6 dưới sự quản lý của Liên tỉnh IV và Liên khu uỷ V. Huyện H2 thuộc B3 (bắc tỉnh Đăk Lăk), bao gồm khu vực từ đèo Tô Na đến huyện MaĐrak, bao gồm Plei Pa, buôn Broăi, xã Ia Tul, hiện thuộc huyện Ia Pa tỉnh Gia Lai.
Vào tháng 8 năm 1960, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk lần thứ nhất đã hợp nhất huyện H2 với huyện MĐrak (A1) thành liên huyện A10. Tuy nhiên, đến cuối năm 1961, tổ chức này lại được tách ra như trước.
Năm 1962, để cải thiện quản lý, tỉnh Đăk Lăk đã tách vùng ven thị xã Hậu Bổn để thành lập huyện 7 (H7).
Tháng 11 năm 1971, tỉnh Gia Lai đã cắt một phần phía nam Khu 7, giáp phía bắc sông Ayun và khu vực tiếp giáp với huyện H2 và H3 của tỉnh Đăk Lăk, để thành lập Khu 11.
Vào năm 1973, huyện H7 được hợp nhất với huyện H3 để thành lập huyện H37 thuộc tỉnh Đak Lak. Đến tháng 12 cùng năm, huyện H2 đổi tên thành huyện Sông Ba, lấy tên từ con sông chảy qua khu vực này.
Kể từ năm 1975 đến hiện tại
Sau khi miền Nam được giải phóng hoàn toàn vào năm 1975, tỉnh Đak Lak tiến hành tổ chức lại các huyện. Vào tháng 7 năm 1975, huyện Sông Ba và huyện 37 (gồm thị xã Hậu Bổn và vùng Tây Cheo Reo) được hợp nhất thành huyện Cheo Reo, thuộc tỉnh Đak Lak. Huyện này sau đó trở thành một phần của huyện Cheo Reo.
Vào tháng 1 năm 1976, theo quyết định của Chính phủ, huyện Cheo Reo của tỉnh Đak Lak được chuyển giao về tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Hội nghị Tỉnh uỷ Gia Lai - Kon Tum đã ra nghị quyết về việc củng cố, xây dựng huyện phát triển và thống nhất địa giới hành chính. Huyện Cheo Reo sau đó được hợp nhất với Khu 11 để hình thành huyện mới AyunPa.
Ngày 23 tháng 4 năm 1979, theo Quyết định số 178-CP của Hội đồng Chính phủ, huyện AyunPa được chia thành hai huyện mới: AyunPa và Krông Pa.
Huyện Krông Pa được thành lập bằng cách tách ra từ phần đất phía đông của huyện Ayun Pa. Sau khi hình thành, địa giới hành chính của huyện Krông Pa bao gồm khu vực từ đèo Tô Na kéo dài về phía đông, đến bắc cầu Kà Lúi và tây sông Krông Năng, với 6 xã: Ia Rsai, Chư Drăng, Ia Rmok, Đất Bằng, Ia Dréh và Krông Năng.
Vào ngày 17 tháng 8 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 30-HĐBT, theo đó:
- Chia xã Ia Rmok thành hai xã: Ia Rmok và Phú Cần
- Chia xã Đất Bằng thành hai xã: Đất Bằng và Ia Mlah
- Chia xã Chư Drăng thành hai xã: Chư Drăng và Chư Gu
- Chia xã Ia Rsai thành hai xã: Ia Rsai và Ia Siơm.
Vào ngày 13 tháng 1 năm 1989, xã Phú Cần được chia thành hai đơn vị hành chính: xã Phú Cần và thị trấn Phú Túc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Gia Lai được tái lập và huyện Krông Pa thuộc tỉnh Gia Lai.
Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67-CP, theo đó:
- Chia xã Ia Dréh thành hai xã: Ia Dréh và Chư Ngọc
- Chia xã Ia Rsai thành hai xã: Ia Rsai và Chư Rcăm
- Chia xã Chư Drăng thành hai xã: Chư Drăng và Uar.
Hiện nay, huyện Krông Pa gồm 1 thị trấn và 13 xã.
Văn hóa
Krông Pa được biết đến với danh hiệu 'NHẤT THỔ, TỨ SƠN, THẤT GIANG, LƯỠNG PHÚ QUÝ' (có nghĩa là: Một vùng đất với 4 ngọn núi, 7 con sông, và sự phú quý gấp đôi).
Huyện có hai nhóm dân tộc chính là người Jrai (Gia-Rai) và người Kinh. Bên cạnh đó, còn một số ít dân cư thuộc các nhóm dân tộc khác như Tày, Nùng sống trên vùng đất này.
Kết quả khảo cổ học cho thấy Gia Lai đã được con người chọn làm nơi cư trú từ rất sớm. Mặc dù vùng đất hiện nay thuộc Krông Pa chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, một số phát hiện gần đây cho thấy dấu vết của cư dân từ thời kỳ hậu đá mới và sơ kỳ kim khí.
Người Jrai Mthur hiện nay là nhóm dân cư lâu đời nhất trên vùng đất này, chiếm 68% dân số. Đây là một trong năm nhóm Jrai tại tỉnh Gia Lai, thuộc ngữ hệ Đảo (Malayo-Polinesien). Nhóm Jrai Mthur được chia thành hai bộ phận: một bộ phận là cư dân đã sinh sống từ lâu và bộ phận còn lại di cư từ phía đông đến sau này, chẳng hạn như nhóm dân ở buôn Ơi Nu (xã Ia Sươm).
Tổ chức xã hội truyền thống của người Jrai Mthur cũng như các nhóm Jrai khác trong tỉnh là hệ thống làng, mà ở đây được gọi là buôn hoặc bôn.
Buôn làng của người Jrai là một cấu trúc xã hội đặc trưng và bền vững, là cộng đồng cư trú của cư dân. Người Jrai Mthur thường chọn địa điểm gần nguồn nước và thuận tiện cho sinh hoạt để lập làng. Quy mô của làng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, đất canh tác và môi trường sống. Mỗi buôn làng bao gồm nhiều gia đình lớn theo hệ mẫu hệ hoặc gia đình nhỏ đã tách ra. Người Jrai sống trong những ngôi nhà sàn dài, với cửa chính thường mở về phía bắc. Tên làng thường gắn liền với nguồn nước hoặc tên người sáng lập làng. Trong gia đình, vai trò và quyền lực của phụ nữ theo truyền thống mẫu hệ được coi trọng.
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khu vực hiện nay là thị trấn Phú Túc đã chứng kiến sự di cư của một nhóm người Kinh từ đồng bằng ven biển miền Trung đến đây, thiết lập các mối quan hệ buôn bán và chọn nơi này làm quê hương thứ hai. Làng Quang Hiển (xã Đất Bằng) và thôn Thắng Lợi (xã Phú Cần) là những ngôi làng Việt đầu tiên được thành lập. Tại thôn Thắng Lợi, người dân đã dựng đền thờ Tiền Hiền, ông Phan Hữu Phàn, người đã đưa những người Kinh đầu tiên từ Phú Yên đến đây năm 1925.
Do tiếp giáp với người Jrai Chor, Ê Đê (ở Đak Lak) và Chăm Hroi (ở Phú Yên), văn hóa của người Jrai ở Krông Pa có những điểm khác biệt so với các nhóm Jrai khác trong tỉnh.
Nằm trong vùng văn hóa cổ của Tây Nguyên, văn hóa các dân tộc ở đây mang đậm bản sắc dân gian truyền thống, phong phú và độc đáo. Vì tiếp giáp với Đak Lak và Phú Yên, nền văn hóa ở đây ít nhiều bị ảnh hưởng bởi các dân tộc Ê Đê và Chăm.
Trên địa bàn huyện còn tồn tại những dấu tích văn hóa Champa cổ. Tại xã Đất Bằng, trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã phát hiện một bức phù điêu Chăm và tại buôn Jú, xã Krông Năng, một dấu tích tháp Chàm có tên Bang Keng cũng được phát hiện. Tháp Bang Keng nằm trên bờ bắc sông Krông Năng, bị che phủ bởi cây cối và dây leo. Người dân buôn Jú và khu vực lân cận, với tín ngưỡng đa thần, tin rằng Bang Keng là nhà của thần nước. Những dấu tích văn hóa Champa tại Krông Pa chứng minh rằng người Chăm đã từng hiện diện ở đây từ lâu.
Huyện vẫn giữ gìn kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian phong phú và đa dạng.
Văn hóa vật thể của người Jrai Mthur, giống như Jrai Chor ở khu vực Cheo Reo, được thể hiện qua cấu trúc buôn làng, nhà cửa và nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ. Người Jrai Mthur không có nhà Rông, ngôi nhà chung của cộng đồng, mà tổ chức sinh hoạt tại gian khách (amang) của ngôi nhà dài của chủ làng (khoa bôn, buôn). Nhà dài là đặc trưng kiến trúc của người Jrai Mthur, nơi sinh sống của nhiều thế hệ trong gia đình và là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng như uống rượu cần và thực hiện các công việc theo luật tục. Kiến trúc nhà dài và các họa tiết điêu khắc trang trí phản ánh đặc trưng riêng của người Jrai Mthur - Krông Pa.
Văn hóa truyền thống của người Jrai Mthur còn bao gồm mỹ thuật đặc sắc với các tượng nhà mồ, tượng nam nữ, mẹ bồng con, và động vật, phản ánh sinh hoạt của con người và thế giới tâm linh. Các tượng gỗ, dù có đường nét thô nhưng đầy sức sống, thể hiện khát vọng tự do, tình yêu và sự sống. Các hoa văn trên cây nêu trong lễ hội đâm trâu, vách nhà, cột nhà, cầu thang và đồ đan lát đều cho thấy sự tinh tế và tình cảm của nghệ nhân.
Hoa văn trên trang phục như tấm choàng, khố, áo chui đầu và váy quấn của người Jrai Krông Pa mang đậm nét văn hóa đặc trưng của vùng. Họ cũng yêu thích trang sức như vòng cổ, vòng chân, tay bằng đồng, bạc và hạt cườm.
Văn hóa nghệ thuật dân gian của người Jrai Mthur Krông Pa thể hiện đời sống tinh thần phong phú qua nhiều loại hình như sử thi, truyện cổ, múa và hát dân ca. Sử thi, hay còn gọi là Hơri hoặc akhan, là di sản văn học dân gian quan trọng, đặc trưng cho văn hóa Tây Nguyên và mỗi dân tộc. Tại Krông Pa, sử thi vẫn được truyền tụng và diễn xướng trong các hoạt động cộng đồng. Bên cạnh sử thi, kho tàng văn học dân gian còn bao gồm nhiều truyện cổ, truyện thơ, câu đố, nói vần và ca dao.
Người Jrai Mthur, như các dân tộc khác, rất yêu thích âm nhạc, đặc biệt là trong các dịp lễ hội cộng đồng hoặc của dòng họ. Các nhạc cụ như cồng chiêng, kơ nhí, kơ tía và tơrưng là những công cụ tiêu biểu. Âm nhạc và nhạc cụ không chỉ dùng trong nghi lễ và tín ngưỡng mà còn được coi là tài sản quý giá, gắn bó với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng và không thể thiếu trong sinh hoạt của người Jrai.
Hiện nay, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bao gồm Gia Lai, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Người Jrai Krông Pa tự hào rằng văn hóa cồng chiêng của họ góp phần quan trọng vào di sản văn hóa này. Cồng chiêng không chỉ là tài sản quý giá mà còn là thước đo sự giàu có của các gia đình trong buôn làng. Trước đây, những tù trưởng giàu có thường sở hữu nhiều chiêng và ché. Sau giải phóng, các buôn làng vẫn bảo tồn ít nhất vài bộ chiêng. Ngày nay, người Jrai ở Krông Pa vẫn gìn giữ hơn 500 bộ cồng chiêng và có những nghệ nhân nổi tiếng như Nay Phai, giữ nhiều bài chiêng cổ trong khu vực Gia Lai, Đak Lak và Phú Yên.
Lễ hội truyền thống của người Jrai ở Krông Pa là một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa của cộng đồng. Trong huyện có hai hệ thống lễ hội chính: lễ hội vòng đời như lễ thổi tai, lễ trưởng thành, cầu sức khỏe và lễ cúng tang, bỏ mả (Hoă lui). Lễ hội trong chu kỳ canh tác nương rẫy diễn ra theo mùa vụ, bao gồm lễ trỉa lúa, cầu mưa và mừng lúa mới. Đặc biệt, lễ hội đâm trâu, diễn ra trong các dịp mừng chiến thắng hoặc khánh thành nhà mới, là lễ hội lớn nhất, thể hiện bản sắc văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng. Các lễ hội này thể hiện tinh thần thượng võ, tình cảm chân thật của người dân qua tiếng chiêng ngân, điệu soang, trang phục, lời khấn cúng và men rượu cần nồng say.
Sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng của người Jrai gắn liền với cộng đồng buôn làng. Buôn làng được xem là cộng đồng tâm linh trong tín ngưỡng dân gian. Người Jrai Mthur tin vào một lực lượng siêu nhiên thần bí (Yang) bảo vệ họ khỏi rủi ro trong cuộc sống hàng ngày. Họ tin rằng có một lực lượng vô hình trong thế giới tự nhiên tác động đến mọi mặt của con người. Do đó, các nghi lễ thờ cúng liên quan đến các vị thần như thần ruộng rẫy (yang hma), thần bến nước (yang pin ia), thần núi (yang chư), thần làng (yang bôn) và thần nhà (yang sang) rất quan trọng trong đời sống của người dân.
Tương tự như vùng Cheo Reo, người Jrai đã có chữ viết từ sớm. Cụ Nay Der, nhà giáo đầu tiên của người Jrai vùng Cheo Reo, đã nghiên cứu và phiên âm chữ viết cho người Jrai dựa trên mẫu tự Latinh do người Pháp đưa vào Tây Nguyên. Dù chữ viết Jrai chưa phổ biến rộng rãi, nhưng đồng bào Jrai đã có hệ chữ viết riêng để học đọc và viết từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945.
Đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Gia Lai |
|---|
Xã, thị trấn thuộc huyện Krông Pa |
|---|
