
'1. Cảnh Tết buồn của Nguyễn Công Hoan trong tác phẩm “Cảnh Tết của những nhà văn tài ba”
Trong truyện ngắn “Cảnh Tết của những nhà văn tài ba”, một số văn sĩ nghèo kiết xác quyết định đến nhà của Nguyễn “ăn chực” để ăn Tết.
“Đôi bạn bước đi với niềm vui. Trời trong xanh. Gió lạnh thổi qua tai. Rét buốt. Phố phường vào ngày mùng ba Tết, đông đúc với người và xe cộ. Chiếc lốp cao su đang xoay và lòe loẹt hoa cúc vàng, cùng với những cành đào nở rộ, lạnh lùng lao về phía trạm xe lửa.”
Người đàn ông quê mặc áo nách, cầm bánh pháo, và câu đối, với ngón tay cài hoa cúc, đứng lại để ngắm cái khăn được xếp gọn trong tủ kính. Phụ nữ từ chợ về, ôm thúng đậu và bong bóng, mang theo con gà thiến nặng trĩu. Những đứa trẻ, quần xắn ngắn, đổ từng thùng nước xuống vỉa hè để rửa sạch, không quan tâm đến việc người khác đi qua. Một số đứa trẻ con mang hương liệu và pháo trong túi, đôi khi lại đốt lửa, khiến người lái xe bật chạy.
Lê và Vũ đi cùng nhau một cách chậm rãi, nén gót giày xuống vỉa hè cồng kềnh, trông như lính sẵn sàng ra trận. Bất ngờ, Vũ vẫy tay lên, hỏi:
- Cậu còn thuốc lá không?
Lê nhếch môi cười:
- Tôi cũng sắp hỏi câu đó mày đấy.
Âm thanh của tiếng cười vang lên, khiến cả những cô gái xinh đẹp nhất và lười nhất trong xã hội, quay đầu lại, cầm một bản sách và báo tết.
- Này, Vũ, chúng nó mua đồ tết như làm thế nào đó để làm tổn thương chúng ta vậy.
- Không quan tâm.
(Bị xóa một phần bởi sự kiểm duyệt của Ty, kẻ thống trị Pháp)
- Tôi ghét công việc này, luôn luôn nghèo khổ. Nhìn các nhà văn, ai cũng gầy như que nhưng độc giả, đặc biệt là những cô gái đó, họ tự tưởng mình cao quý như thần thánh!
- Có gì khác biệt so với những người làm nghề khác đâu? Không ai quan tâm đến chúng cả.
- Bạn bè tao ai cũng giống như tao. Mỗi lần có cơ hội ra ngoại trời là chúng mày cứ tụ họp lại làm mất trật tự.
- Chẳng ai muốn kết bạn với bọn nhà giàu đâu, chúng mày phải tự hào về cái nghèo của mình. Cái nghèo của mấy đứa nhà văn là cái nghèo cao quý, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo được ghi vào lịch sử văn học thế giới. Chúng mày nghèo vì trong tâm trí chúng mày có bao nhiêu ý tưởng, chúng mày dốc hết sức lực để làm giàu cho tâm trí của cả thế giới.
Lê nắm lấy tay bạn, đẩy mạnh vào vai bạn:
- Tôi thật sự ghét những kẻ như mày, chỉ biết mơ mộng. Hãy nhớ rằng, hiện tại, mày không có một xu trong túi, dù đã đến 30 tết, mày đến nhà tao, định ăn mừng tết với tao, nhưng sau đó, mày lại cùng tao đi đến nhà thằng Trần. Đúng không?
- Nhưng khi nói về văn học trong tương lai, người ta sẽ nhớ đến tên của những nhà tiểu thuyết Lê, nhà thơ Vũ, nhà kịch Trần, và nhiều người khác... Chúng ta sẽ được ghi nhớ mãi mãi.
(Bị xóa một phần bởi sự kiểm duyệt của Ty, người thống trị Pháp)
- Mày nói đúng đấy, cho thấy mày khá thông minh. Đó là ý của việc nói về sự bất tử của nhà văn sau khi qua đời, khiến cho những nhà văn chỉ bấy giờ mới thực sự sống hơn cả vua chúa, vì bây giờ nhà văn không còn phải lo lắng về việc kiếm ăn nữa!
[..]
Lúc đó, Nguyễn ngồi bên lề đường. Cảm thấy buồn chán không biết phải làm gì để giải trí. Đột nhiên, thấy ba người bạn ở cổng ra vào. Nguyễn vui mừng như thể tìm thấy kho báu, nhanh chóng chạy ra đón. Anh đứng reo hò với tay khuỳnh, như một vị tướng, hỏi:
- Ai đưa ông đến nhà tôi vậy?
Vũ nói tiếp:
- Đúng là cái nghèo của những nhà văn đã đưa ông cả đến đây, không ai khác. Những ông cả đã quyết định đến nhà báo về tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn vào dịp tết. Không ai dám phản đối!
Lê cắt lời:
- Chúng tôi kiệt quệ, không biết làm sao để mừng tết, nên mới tụ tập đến đây gần mày.
Nguyễn nhăn mặt:
- Tưởng rằng chúng bay đến thăm tôi, tôi mới chịu đón tiếp. Nhưng nếu chúng bay đến chỉ để nhổ nhọt cái bánh chưng của tôi, thì tôi sẽ đuổi chúng ra khỏi nhà ngay bây giờ. Chúng bay quá dốt đặc. Chúng bay còn tưởng rằng Tết là lúc nào, thì thật khổ sở cho chúng. Đối với tôi, mỗi khi hoàn thành một cuốn sách, đó chính là Tết của tôi. Mỗi năm, tôi có thể tận hưởng ba hoặc bốn lần Tết. Nhưng nếu có một năm không còn Tết nữa, thì tôi cũng không quan tâm, vì không ai phải phụ thuộc vào ngày lễ để hạnh phúc cả.'
- Nhưng khi thấy mọi người đều rộn ràng về Tết, bản thân cũng không thể không cảm thấy như vậy.
- Tôi ước gì mọi người có thể quên hết về lịch và thời gian, không ai biết được ngày tháng là gì nữa. Điều đó sẽ làm cho những người ngốc như chúng bay không còn làm tôi khó chịu nữa.
- Nếu thế thì mày cứ nói luôn rằng mày cũng không có đủ tiền để ăn Tết, tức là mày cũng không khác gì chúng tao, điều đó dễ hiểu chứ?
[...]
Bên lề con đường, một số người mặc trang phục trang trọng, đeo khăn mới, đi dép mới, trong khi khác lại ngậm trầu, hút thuốc lá, lởn vởn đi thăm nhà nhau trong dịp Tết. Những cô gái mặc yếm đỏ, cài thắt lưng tím, áo nâu non, đến chùa hái lộc. Họ gặp nhau và chúc nhau bằng những lời hoang phí.
Vũ tỏ ý cảm thấy:
- Khắp cả miền Nam, và có thể cả Trung Quốc, tức là một phần của thế giới, đang hân hoan chào đón Tết. Chỉ có bốn anh em ta phải ở nhà, nằm im dưới chăn, chẳng muốn dậy đâu.
- Bởi vì chúng ta là những tác giả vĩ đại. Chúng ta đóng góp tinh thần của mình vào niềm vui Tết của họ. Như vậy, chúng ta cũng ăn Tết, Tết tinh thần.
- Hei, đánh thức thằng Lê lên đi, nó ngủ quá chừng khiến tao phát ghen. Mà đã chín mười giờ rồi chưa? Cả thế giới này tấp nập, còn nó thì như con người chán đời.
Nguyễn lắc Lê:
- Dậy thôi, hôm nay là mồng một rồi! Mười giờ rồi đấy? Hãy dậy và tham gia vào không khí Tết!
Bị động mạnh, Lê bừng dậy. Anh nhăn nhó mặt vì ngái ngủ, ngước mắt nhìn quanh, nhìn bạn bè, rồi lại nằm xuống, quấn chăn kín gáy, trả lời:
- Ăn Tết tinh thần mà, chúng mày?”
' 2/ Những câu chuyện về Tết của nhà văn Tô Hoài '
Trong tập sách 'Chuyện xưa Hà Nội' của nhà văn Tô Hoài được in lần đầu vào năm 1980 (sau này được tái bản nhiều lần), ông đã ghi lại về những kỷ niệm Tết Hà Nội với 9 bài viết về mùa xuân, lễ hội và những dấu ấn của Tết như 'Chờ đón giao thừa', 'Những ngày áp Tết', 'Đêm giao thừa', 'Hội làng', 'Pháo', 'Giỗ Tết', 'Khai bút', 'Chơi chùa', 'Tảo mộ'.
Trong bài viết “Những ngày trước Tết”, ông viết:
“Mỗi tháng có sáu ngày chợ Bưởi, là ngày thứ tư và thứ chín. Tôi vẫn nhớ rõ như in từ khi tôi còn bé. Thêm vào đó, chợ Bưởi còn có ba ngày chợ đặc biệt vào cuối tháng Chạp: ngày mười chín, hai ngày hăm bốn, hai ngày hăm chín. Mỗi khi đến ngày hăm chín, chợ cuối năm luôn rất đông đúc và nhộn nhịp. Những ngày chợ Tết còn được gọi là ngày chợ trâu bò, bởi vì, chỉ có vào ngày chợ Tết, người ta từ các làng ngoại ô mới đem bò trâu ra chợ để bán.
Rồi lại nghe người ta bàn tán, từ đó biết rằng: chợ ngày mười chín là chợ của những người giàu có. Những ai có đủ tiền thường sẵn sàng chuẩn bị cho Tết sớm. Ngày hăm bố, chợ dành cho tất cả mọi người. Còn chợ ngày hai mươi chín là nơi của người nghèo. Những người nghèo phải lo lắng về Tết đến gần, cho đến hôm tất niên mới có đủ tiền ra chợ mua thịt lợn, mua hương để tạo cho gia đình một cái Tết trọn vẹn.”
Vẫn nhớ những phiên chợ Tết Bưởi như thế. Và nhớ rõ là tôi luôn có bánh pháo tép dài bằng gang tay. Thỉnh thoảng lại ra thúng hàng cụ Lựu mua miếng khế khô tẩm mật gừng về ăn. Dù sao tôi cũng luôn sắm cho mình đôi guốc mộc mới. Và, đầu tôi được cạo trọc lốc, trắng hẳn, để chuẩn bị đón Tết.
Trẻ con luôn háo hức với Tết bé bỏng như thế. Nhưng cũng lan truyền đến người lớn, hiểu rõ về những phiền muộn của Tết thực sự. Bởi vì, những ngày gần Tết, nhà tôi thường có những người đến đòi nợ. Cũng không có gì đáng sợ lắm. Không có bọn thu nợ chuyên nghiệp đến nhà tôi đòi tiền. Không trả nợ, khách nợ lấy đồ đạc, mang đi cất giữ. Thật ra tôi chỉ nghe nói về những chuyện đó. Chưa bao giờ thấy trực tiếp những kẻ đến đòi nợ hoặc những kẻ nợ xuất hiện ăn năn ở nhà con nợ.
Người đòi nợ nhà tôi khác biệt. Ông Phán Hàng Mã là một trong số đó. Trên phố, mọi người thường thấy ông ấy mỗi ngày cầm ô đi làm đều đặn, từ đó mà gọi ông là ông phán. Không biết ông ấy có phải là người tham lam hay không. Tôi cũng đã kể về điều đó một lần. Và mọi người đều biết ông Phán từ khi cưới người vợ thứ hai, ngôi nhà trở nên hỗn loạn và khó khăn hơn.
[...]
Tôi biết ông Phán đến đòi nợ. Biết thế tôi cảm thấy buồn, cảm thấy xấu hổ, cảm thấy sợ. Tôi né tránh, đi lang thang lên chợ. Phiên chợ Tết đông hơn ngày chợ bình thường. Lang thang khắp các gian hàng, chỗ bán bưởi bòng, hàng tranh, cho đến khi trưa mới quay về. Thế mà vẫn thấy ông Phán ngồi yên ở ghế tràng kỷ.
[...]
Nhìn ông đòi nợ ngồi lì đó đến khi nào cơ chứ. Không tiền, không đồ, nhà chẳng có gì đáng giá, làm sao mà sống nổi. Có lẽ chỉ là tưởng tượng của tôi, vì bà tôi chưa từng nói thế. Bà ngồi im lặng, sợ sệt. Tôi dần ghét bà rồi.
[...]
Năm sau, ông phán lại đến nhà tôi vào ngày gần Tết. Tối tăm vẫn thấy ông ngồi yên trên ghế tràng kỷ. Bà tôi vẫn ngồi chịu đựng. Chủ nợ và con nợ ngồi im lặng, không một tiếng động. Không biết nói gì. Đi đòi nợ mà không có tiền, không có gì để thế chấp, ông Phán cũng không đủ uy tín để bắt nợ. Chẳng có lý do gì phải nói.
' 3/ Nguyên Hồng đêm giao thừa vẫn bận rộn với chữ viết '
Về việc ăn Tết, trong nhật ký của Nguyên Hồng, ông đã ghi chép về những dịp Tết đầu những năm 1960 mà sau này, hai con gái của ông là Nguyễn Thị Thanh Thư và Nguyễn Thị Nhã Nam đã tập hợp lại trong Nhật ký Nguyên Hồng. Dù đã qua một chuỗi năm Tết, nhưng nhà văn vẫn “bận rộn”. Trong những năm ấy, ông phải mượn tiền từ bạn bè.
Trong nhật ký, ông ghi chú:
“Ngày 20/3 tôi (28/4/1959). Đi mua bò với cụ Đĩnh. Chiếc xe Dugiot bán rồi, được 800đ. Nhà tôi bảo đã hết tiền lộc Bỉ vỏ. Tôi sử dụng số tiền đó để mua nồi đồng, mua màn, và cái hòm gỗ để làm chuồng chim bồ câu. Mua thêm con lợn với giá 38 đồng của bà Đĩnh và nhờ ông Gần làm chuồng lợn, bò… Ông Gần, bà Gần đều rất nhiệt tình. Cả ông Nghi cũng đến và đề nghị giúp việc nhà. Rau tre, mía và dứa đang tốt. Tôi sửa lại vài cái giàn và làm lại mảnh đất trước nhà. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi đã viết xong 152 trang. Vợ tôi cũng khỏe mạnh. Cuộc sống tại Nhã Nam dần trở nên ổn định hơn. Tôi lo cho Hà, muốn cậu học hết lớp 10 và Sơn có thể theo đuổi đại học. Tôi chi tiêu 110 đồng để mua một chiếc xe đạp cũ để đi lại Hà Nội.
[...]
Ngày 3/6/59. Tôi, Lân, và Tưởng (Kim Lân và Nguyễn Huy Tưởng) đã có cuộc thảo luận sâu sắc về “Có thể sống bằng nghề viết được không”…Tôi đã đem ra cả lợn, bò để chứng minh sự quyết tâm với vợ và con tại gác Trần Nhân Tôn rằng “nhà tôi” đã tiến lên… Sau cuộc thảo luận, tôi cảm thấy buồn. Nhưng tôi phải quyết tâm viết. Tôi cần hoàn thành bộ tiểu thuyết của mình.
[...]
Ngày 2/1/1962. Tôi dậy sớm, nấu nước và rang cơm cho các con. Nhà tôi nằm ở cái Thế. Cô Nhã đã thức dậy, vùi mình trong chăn, nhìn ra ngoài. Trong tài khoản của nhà tôi, còn 500 đồng chỉ còn lại 40 đồng. Tôi thêm 21 đồng nữa để làm giả tiền nữa và chi tiêu. Tháng trước, nhà tôi đã sử dụng thuốc Bắc. Tháng này, tôi sử dụng sâm và hai lọ Hà sa đại tảo hoàn. Tôi rời nhà, hôn các con với trái tim nặng nề. Có lẽ tôi sẽ không trở về nhà trong dịp Tết này.
Ngày 30 Tết (4/2/1962). Giết lợn. Quá bận rộn. Ông Cả Nghi và Thơm đã làm. Sau đó, mời ông Thùy và ông Thưởng đến ăn. Tặng lòng bà Gần và vợ Thơm. Đến chiều mới xong việc gói bánh chưng. Bếp giữa nhà luộc cho đến 4 giờ sáng. Sau khi dọn dẹp xong, tôi mới đi ngủ. Con trai tôi, Hà, ngồi canh nồi bánh chưng. Quá nóng và khói. Năm ngoái, vào thời điểm này, tôi đã hoàn thành chương VI của cuốn sách. Năm nay, tôi đã hoàn tất “Sóng gầm”. Nhưng vẫn còn nhiều lo âu mới. Đặc biệt là lo lắng về cuộc sống. Các con càng lớn, chi phí trong nhà càng cao. Sang năm mới, tôi cần phải sắp xếp việc nhà và tiết kiệm hơn nữa.
[...]
Ngày 2/2/1967. Tôi đi mua thêm đồ Tết. Mua được bánh đa nem và mứt. Tôi tặng bà chủ nhà một hộp bánh quy. Mứt tôi tặng bà Hợp. Hai chai rượu cam tôi để dành. Tôi vay thêm 20 đồng từ ông Tuệ. Cây đào trong sân cụ Huỳnh đã nở hoa. Tôi cắt hai cành đào nhỏ để bày trên bàn thờ cụ Huỳnh và thắp hương. Tôi uống rượu kèm với hạt dẻ rang, kể chuyện với cụ Đề với bà cụ. Tôi tặng hai chiếc mũ bé Diệu (con út của nhà văn). Cụ khen mũ hoa là mũ len. 30 đồng mượn từ ông Tuệ, tôi mua hành, đỗ xanh, và rau dưa. Số tiền còn lại, tôi dùng để mua hai cân gà…”
- Tổng hợp bởi Mytour
