Lăng mộ Thiệu Trị, còn gọi là Xương Lăng (昌陵), là nơi an nghỉ của hoàng đế Thiệu Trị. Di tích này nằm trong Quần thể di tích cố đô Huế, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ ngày 11 tháng 12 năm 1993.
Vị trí
Lăng mộ Thiệu Trị tọa lạc ở chân núi Thuận Đạo, thuộc làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố khoảng 8 km. So với các lăng tẩm của các vị vua trước và sau, lăng Thiệu Trị có những đặc điểm riêng biệt. Đây là lăng duy nhất hướng về phía Tây Bắc, hướng ít thấy trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn. Trước mặt lăng, ngọn núi Chằm sừng sững được chọn làm tiền án, và dòng sông Hương chảy qua tạo yếu tố minh đường. Cách bố trí 'Tả thanh long' và 'Hữu bạch hổ' cũng có sự khác biệt: đồi Vọng Cảnh bên sông làm 'rồng chầu', còn 'hổ phục' là ngọn Ngọc Trản bên kia sông. Phía sau lăng, núi Kim Ngọc mờ ảo trong mây được chọn làm hậu chẩm, cùng với một mô đất cao lớn được xây thêm ngay sau lăng. Một điểm đặc biệt khác là lăng không có La thành bao quanh; thay vào đó, cánh đồng lúa và vườn cây xanh quanh lăng tạo thành vòng La thành thiên nhiên, mang lại vẻ đẹp thanh thoát và yên bình cho lăng Thiệu Trị.
Quá trình xây dựng lăng mộ
Vua Thiệu Trị qua đời vào ngày 4 tháng 11 năm 1847, khi mới 41 tuổi, sau 7 năm trị vì. Trước khi mất, nhà vua dặn dò con trai sắp lên ngôi rằng: 'Chọn địa điểm xây lăng ở chỗ cao ráo, gần núi để thuận tiện cho công việc xây dựng. Đường hầm đưa quan tài nên thiết kế giống như lăng Hiếu, và tránh xây dựng nhiều đền đài để tiết kiệm tài lực.'
Khi vua Tự Đức lên ngôi, ông đã chỉ thị các thầy địa lý tìm vị trí xây lăng cho vua cha. Họ tìm được một địa điểm lý tưởng ở chân dãy núi thấp thuộc làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, cách Kinh thành không xa. Núi này sau đó được đặt tên là Thuận Đạo, và lăng được gọi là Xương Lăng.
Vào ngày 11 tháng 2 năm 1848, vua Tự Đức giao trách nhiệm xây dựng lăng cho đại thần Vũ Văn Giai, với chức vụ Đổng lý. Nhà vua yêu cầu báo cáo tiến độ xây dựng mỗi 10 ngày.
Theo di chúc của vua cha, vua Tự Đức yêu cầu Vũ Văn Giai thiết kế đường hầm 'toại đạo' giống như lăng Minh Mạng, và các công trình thờ phụng như điện, đình, viện... phải theo quy định của lăng Gia Long và phù hợp với địa hình. Đường hầm được khởi công vào ngày 24 tháng 3 năm 1848.
Quá trình xây dựng lăng Xương Lăng diễn ra nhanh chóng và gấp rút, với các công trình chính hoàn tất chỉ sau ba tháng. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1848, vua Tự Đức đã trực tiếp kiểm tra công trình. Mười ngày sau, thi hài vua Thiệu Trị được an táng trong lăng sau 8 tháng đặt tại điện Long An. Vua Tự Đức đã viết một bài văn bia dài hơn 2.500 chữ, khắc lên tấm bia 'Thánh đức thần công' và dựng vào ngày 19 tháng 11 năm 1848 để tôn vinh công đức của vua cha.
Trong một bài dụ của vua Tự Đức vào tháng 5 năm 1848, có đoạn ghi: 'Việc xây dựng đã gần hoàn tất, xin báo cáo sớm'. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1848, tức 10 ngày trước lễ an táng vua Thiệu Trị, vua Tự Đức đã lên lăng để kiểm tra lần cuối. Mặc dù vua Thiệu Trị đã yêu cầu xây dựng lăng 'kiệm ước', không tốn kém quá nhiều tài chính và sức lực của dân binh, nhưng khi kiểm tra công trình, vua Tự Đức vẫn hài lòng dù công trình có vẻ phức tạp.
Tấm bia 'Thánh đức thần công' với bài bi ký dài hơn 2.500 chữ do vua Tự Đức viết, chỉ được dựng lên vào ngày 19 tháng 11 năm 1848, tức là 5 tháng sau khi hoàn tất xây dựng.
Tính từ ngày bắt đầu xây dựng lăng (11 tháng 2 năm 1848) đến khi hoàn tất, lăng Thiệu Trị được xây dựng trong chưa đầy 10 tháng.
Gần lăng Thiệu Trị có ba lăng mộ khác thuộc gia đình vua. Ở phía trước là Lăng Hiếu Đông, nơi an nghỉ của mẹ vua - bà Hồ Thị Hoa; phía sau bên trái là Lăng Xương Thọ của vợ vua - bà Từ Dụ; và phía trước bên trái là khu lăng 'Tảo thương', nơi chôn cất các con nhỏ của vua Thiệu Trị.
Kiến trúc
Vua Tự Đức đã cho xây dựng lăng mộ vua Thiệu Trị theo thiết kế và ý tưởng chủ yếu do vua cha để lại. Trước khi khởi công, Huế chỉ có hai lăng là Gia Long và Minh Mạng. Trong thời gian trị vì, vua Thiệu Trị đã nghiên cứu kiến trúc lăng của hai vua trước để lập kế hoạch cho ngôi lăng vĩnh cửu của mình.
So với lăng Gia Long và Minh Mạng, lăng Thiệu Trị gần Kinh thành hơn và kết hợp hai mô thức kiến trúc của các lăng trước. Lăng được chia thành hai trục: trục lăng bên phải và trục tẩm (khu vực điện thờ) bên trái, cách nhau khoảng 100 mét. Các kiến trúc sư đã kết hợp hai phần của lăng Minh Mạng, đưa điện thờ sang một bên và nối các phần trước và sau của lăng lại. Mặc dù có sự thay đổi nhỏ trong các công trình kiến trúc, nhưng cách xây dựng Bửu thành, Toại đạo, cầu đá, nghi môn, nghê đồng và hồ bán nguyệt vẫn giống như lăng Minh Mạng.
Điểm khác biệt
Lăng Thiệu Trị không có La thành như lăng Minh Mạng, nhưng giống lăng Gia Long ở chỗ sử dụng các dãy núi xung quanh để tạo thành một vòng La thành thiên nhiên rộng lớn. Lăng tọa lạc dựa lưng vào chân núi Thuận Đạo, với khu vực phía trước là đồng cỏ xanh tươi, ruộng đồng mở rộng từ bờ sông Hương đến cầu Lim. Về phong thủy, lăng Thiệu Trị nằm ở vị trí 'sơn chỉ thủy giao' và hướng về phía tây bắc, một hướng chưa từng được dùng trong kiến trúc lớn ở Huế. Trước lăng khoảng 1 km có đồi Vọng Cảnh, bên trái là núi Ngọc Trản theo vị thế 'tả long hữu hổ'. Núi Chằm cách đó khoảng 8 km làm 'tiền án' cho lăng, và động Bàu Hồ gần hơn làm bình phong tự nhiên. Phía sau, ngoài ngọn núi Kim Ngọc xa, một mô đất cao lớn được xây dựng làm 'hậu chẩm' cho lăng. Lăng có ba hồ bán nguyệt là hồ điện, hồ Nhuận Trạch, và hồ Ngưng Thúy, cùng với dòng khe từ hồ Thủy Tiên chảy ra bên phải, kết nối với nhau bằng hệ thống cống ngầm dưới các lối đi.
Đặc điểm kiến trúc
Lăng Thiệu Trị kết hợp các yếu tố kiến trúc từ lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Giống như Thiên Thọ Lăng, Xương Lăng không có La thành và khu vực lăng mộ cùng tẩm điện tách biệt, song song với nhau. Xương Lăng cũng giống Hiếu Lăng với cách mai táng và Bửu thành hình tròn, hồ Ngưng Thúy hình bán nguyệt bao bọc phía trước. Lăng có hai khu vực: lăng và tẩm. Phần lăng nằm bên phải, trước có hồ Nhuận Trạch nối với hồ điện qua hệ thống cống ngầm và kết nối với hồ Ngưng Thúy trước Bửu thành, tạo thế 'chi huyền thủy' quanh lăng. Sau hồ Nhuận Trạch là nghi môn bằng đồng đúc theo kiểu 'long vân đồng trụ' dẫn vào Bái Đình rộng lớn. Hai hàng tượng đá ở hai bên sân là biểu tượng của nghệ thuật tạc tượng đầu thế kỷ XIX ở Huế. Tiếp theo là Bi Đình dạng phương đình trên một quả đồi thấp hình mai rùa. Các nhà thiết kế đã tách khu vực tẩm điện trong lăng Minh Mạng rồi cải tiến để phù hợp với cảnh quan Xương Lăng. Do đó, Bi Đình và lầu Đức Hinh ở Xương Lăng mang dáng vóc của Bi Đình và Minh Lâu ở lăng Minh Mạng. Từ lầu Đức Hinh, có thể thấy cảnh quan tuyệt đẹp với hồ Ngưng Thúy như vầng trăng trước Bửu thành. Trên hồ có ba cầu: Đông Hòa (phải), Chánh Trung (giữa) và Tây Định (trái), dẫn đến bậc tam cấp vào Bửu thành - nơi đặt thi hài nhà vua. Xa hơn về phía phải của lăng là gác Hiển Quang - nơi nghỉ ngơi và suy ngẫm của nhà vua.
Do yếu tố địa lý không cho phép xây dựng Xương Lăng theo trục dọc như Hiếu Lăng, nên khu vực điện thờ được xây dựng riêng, cách lầu Đức Hinh 100m về phía trái. Ngay sau hồ điện là một nghi môn bằng đá cẩm thạch, với các liên ba và bầu Thái cực bằng pháp lam trang trí hoa lá sinh động. Bức hoành phi giữa các hoa văn có 4 chữ Hán: 'Minh đức viễn hỷ' (Đức sáng cao xa vậy!) ghi lại tài đức của vua. Bước lên tam cấp vào khu vực điện Biểu Đức, sẽ đi qua Hồng Trạch Môn nhìn về phía Bắc, kiểu vọng lâu như Hiển Đức Môn và Khiêm Cung Môn. Chính giữa là điện Biểu Đức, thờ cúng bài vị vua và Hoàng hậu Từ Dụ. Trong chính điện, trên các cổ diêm ở bộ mái và cửa Hồng Trạch có hơn 450 ô chữ chạm khắc các bài thơ về văn học và giáo dục. Các công trình phụ như Tả, Hữu Phối Điện và Tả, Hữu Tùng Viện quanh khu vực điện Biểu Đức làm tăng vẻ cao quý của chính điện. Bên kia hồ điện, hòn Bàu Hồ làm bình phong và rừng thông xanh mướt làm La thành cho lăng.
Giá trị lịch sử
Lăng vua Thiệu Trị tọa lạc gần lăng mộ của gia tộc, với lăng Hiếu Đông của mẹ vua Hồ Thị Hoa nằm chếch phía trước. Bên trái và phía sau là Xương Thọ Lăng của Hoàng hậu Từ Dụ, và không xa phía trước là khu mộ 'tảo thương' chứa nhiều ngôi mộ của các hoàng tử, công chúa, con vua Thiệu Trị.
Cụm di tích lân cận
Trong quá trình khảo sát mở rộng quanh lăng Thiệu Trị, nhóm nghiên cứu các công trình di tích cố đô Huế đã phát hiện một cụm di tích quan trọng tại thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Cụm di tích bao gồm 2 khu mộ Tảo Thương - nơi yên nghỉ của các con vua Thiệu Trị, Bến Ngự (bên bờ sông Hương), các trụ biểu, Hành Cung Cư Chánh, Trại Bảy (nơi lính bảo vệ lăng Hiếu Đông cư trú), đặc biệt là con 'đường ngự' dẫn vào lăng vua Thiệu Trị từ bờ sông Hương. Con đường này xưa dùng để đưa thi hài vua vào an táng trong lăng và sau này được các vua kế tiếp sử dụng trong các lễ tế hàng năm.
Quá trình phục hồi
Bộ Văn hoá Thông tin đã phê duyệt dự án bảo tồn và nâng cấp toàn diện di tích lăng vua Thiệu Trị thuộc quần thể di tích Cố đô Huế, với tổng kinh phí dự kiến lên đến 106 tỷ đồng.
Dự án trùng tu sẽ được thực hiện tại 3 khu vực của lăng Thiệu Trị: Khu vực lăng sẽ phục hồi các công trình như hồ Nhuận Trạch, hồ Ngưng Thủy, Bình Phong tiền án, hồ điện, sân chầu, Nghi môn, Hồng Trạch môn, Hữu phối điện, Tả phối điện, điện Biểu Đức, và Hữu Tùng viện. Khu vực tẩm sẽ phục hồi bình phong tiền án, hồ điện, sân khấu, Nghi Môn, Hồng Trạch môn, Hữu phối điện, Tả phối điện, điện Biểu Đức, và Hữu Tùng viện. Khu vực lăng Bà cũng sẽ được tu bổ nhiều công trình kiến trúc.
Dự án còn bao gồm việc xây dựng các công trình phục hồi, tôn tạo, bảo quản và bảo vệ di tích, như hệ thống phòng cháy chữa cháy, chiếu sáng, và cấp nước.
Tổng mức đầu tư 106 tỷ đồng được cấp từ nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác. Thời gian thực hiện dự án dự kiến từ nay đến năm 2010.
- Thiệu Trị
- Bủu Ngôn, Du lịch ba miền, Nhà xuất bản Thông tin.
- Nhiều tác giả, Huế: thơ và mộng, Nhà xuất bản Thừa Thiên Huế.
- Tài liệu từ Bảo tàng Di tích Cố đô Huế.
- Việt Báo.
Liên kết bên ngoài
- Lăng Thiệu Trị Lưu trữ ngày 12-03-2008 tại Wayback Machine
- Lăng Thiệu Trị

Quần thể di tích Cố đô Huế | ||
|---|---|---|
| Ngoài kinh thành |
| |
| Trong kinh thành |
| |
| Trong Hoàng thành |
| |
| Tử Cấm thành |
| |
| Hệ thống thủy đạo |
| |
