1. Bài số 1
2. Bài số 2
1. Soạn bài Tập làm thơ tám chữ, ngắn 1
I. Nhận biết kiến thức cơ bản
Câu 1: Thể thơ tám chữ là dạng thơ mỗi dòng có tám chữ.
Câu 2: Trong thể thơ tám chữ, có nhiều cách để gieo vần (vần chân, vần lưng), nhưng phổ biến nhất vẫn là vần chân (những chữ in đậm là vị trí gieo vần); được gieo liên tiếp hoặc gián cách hoặc kết hợp cả hai.
Câu 3: Thể thơ tám chữ không hạn chế số dòng thơ, có thể tổ chức thành các khổ thơ (thường là khổ 4 câu); cách ngắt nhịp linh hoạt, tự do.
II. Phát triển kỹ năng
Câu 1: Thứ tự các từ cần điền là: hát vang, ngày nào, rộn ràng, ngàn hoa.
Câu 2: Thứ tự các từ cần điền là: vẫn mất, lặp đi lặp lại, mãi mãi, trời đất.
2. Sáng tác Tập làm thơ tám chữ, ngắn 2
1. Phân biệt thể thơ tám chữ
Câu hỏi (b): Đoạn thơ của Thế Lữ kết âm chân, liên tục: tan - ngàn, mới - gội, bừng – rừng, gắt – mật; đoạn thơ của Bằng Việt kết âm chân, liên tục: về - nghe, học – nhọc, bà – xa; đoạn thơ của Tố Hữu kết âm chân, cách (mỗi câu mới có vần với nhau): ngát – hát, non – son, đứng – dựng, tiên – nhiên.
Câu hỏi (c):
Phong cách ngắt nhịp đa dạng, linh hoạt. Ví dụ, đoạn thơ thứ nhất:
Chẳng bao giờ/ những đêm vàng/ bên bờ suối,
Chúng ta mê mải/ đứng uống/ ánh trăng tan?
Những lúc mưa/ hoá mây/ khắp nơi xa
Chúng ta trầm ngâm/ ngắm nhìn/ thế giới mới?
Những buổi sáng/ rạng ngời/ ánh nắng gieo
Âm nhạc của loài chim/ giấc mơ của ta/ vui tươi?
Những chiều/ đỏ đỏ sau rừng
Chúng ta đợi/ dưới ánh mặt trời gay gắt
Để chinh phục/ phần bí ẩn của cuộc sống?
Lắm lúc buồn bã!/ Thời gian phiêu lưu/ đã đi đâu?
(Thế Lữ, Nhớ rừng)
2. Thực hành nhận diện thể thơ tám chữ
Câu 1: Điền từ vào chỗ trống ở cuối các hàng thơ:
Hãy cắt đứt những dây đàn hát ca
Những vết nhơ mờ mịt của quá khứ
Chào đón sự tươi mới hương đất trời
Của ngày mai hạnh phúc với muôn hoa.
(Tố Hữu, Tháp đổ)
Câu 2: Những từ còn thiếu trong các dòng thơ của Xuân Diệu là:
- Khi xuân qua ngã nghĩa là tôi cũng mất;
- Nói gì nữa rằng xuân vẫn tuần hoàn
- Vì thế chán chường tôi tiếc cả trời đất;
Câu 3: Dựa vào cảm nhận về vần và thanh điệu, ta nhận ra rằng câu thứ ba bị sai ở từ rộn rã. Âm cuối của câu này phải mang thanh bằng và hợp vần với từ gương ở cuối câu trên (đoạn thơ với vần chân liên tiếp). Đoạn thơ đúng là:
Giờ nào nức lòng của một thời trẻ con !
Hỡi mái nhà, hỡi bức tường trắng, cánh cửa gương !
Những chàng trai mười lăm tuổi vào trường ,
Rương nhỏ nhỏ chứa linh hồn như ngọc.
Câu 4: Nếu chưa quen với thể thơ này, trước hết hãy làm cho “đúng ý” (đi theo ý nghĩa, không cần ép buộc đến mức mất đi ý nghĩa) và “chuẩn vần” (đảm bảo đủ từ, có vần, có nhịp).
3. Thực hành sáng tạo thơ tám chữ
Câu 1: Đọc hết khổ thơ để nhận ra rằng khổ thơ này có vần chân giữa: Tiếng “trắng” (câu 1) vần với tiếng “nắng” (câu 3). Vì vậy, từ cuối cùng của câu 4 phải mang thanh bằng và vần “a” để hòa vần với “xa” ở câu 2. Tiếng thứ sáu của câu 3 phải là thanh bằng để duy trì nhịp (thay đổi về thanh điệu so với câu 2).
Khổ thơ đúng là:
