Lễ cúng Mụ là nghi lễ tôn vinh và cầu nguyện đối với các bà Mụ, những Thần nữ theo quan niệm dân gian, được cho là đảm nhiệm vai trò sinh sản và nuôi dưỡng con cháu.
Lễ cúng Mụ phổ biến trong nhiều dân tộc châu Á, trong đó có dân tộc Việt, thường được tổ chức vào các dịp đặc biệt của trẻ sơ sinh: ngày thứ 3 (đầy cữ), ngày thứ 7 (đầy tuần), ngày thứ 30 (đầy tháng), ngày thứ 100 (đầy tuổi tôi) và ngày thứ 365 (thôi nôi hoặc đầy năm).
Khi trẻ đạt đến các độ tuổi nhất định: 3 tuổi, 6 tuổi, 9 tuổi và 12 tuổi, lễ cúng căn sẽ được tổ chức tại mỗi độ tuổi này, trong đó lễ cúng căn 12 tuổi là lễ cúng dứt căn và cũng là lễ cúng Mụ cuối cùng cho trẻ.
Nguồn gốc
Trong tác phẩm Bắc bộ lụcTục Lĩnh Nam nhà giàu khi sinh con đều tắm cho con vào ngày thứ ba hoặc đầy tháng, sau đó tổ chức một bữa tiệc gọi là 'đoàn du phạn' (nghĩa là bữa tiệc đầy đủ và trang trọng). Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ghi chép: Tục lệ nước ta, khi sinh con vào ngày thứ ba, tổ chức lễ cúng Mụ. Đến ngày đầy tháng, ngày tròn 100 ngày, và ngày đầy tuổi tôi, đều là dịp để tổ chức lễ cúng gia tiên, tổ chức tiệc tùng mừng vui. Bà con, người thân thường sử dụng thơ ca, câu đối, quà tặng và quần áo trẻ để mừng lễ. Đặc biệt là ngày tròn 100 ngày, được coi là ngày lễ đầy tuổi tôi quan trọng hơn. Học giả Phan Kế Bính cũng cho rằng ở thủ đô Hà Nội ngày nay, chỉ có khi con được đầy cữ, đầy tháng và đầy tuổi tôi thì mới làm lễ cúng Mụ.
Theo quan niệm dân gian của người Việt, đứa trẻ khi sinh ra là do các Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai) và Tiên Mụ nặn nỗi 12 bộ Tiên Nương (12 bà Mụ) ban cho. Vì vậy, khi đứa trẻ đủ 3 ngày, đủ tháng hoặc đủ tuổi tôi, bố mẹ và ông bà của đứa trẻ tổ chức lễ cúng Mụ để tạ ơn và cầu nguyện cho các bà Mụ ban cho đứa trẻ mọi điều tốt lành. Đây là nghi lễ tín ngưỡng đã được người Việt tiếp thu từ Trung Hoa. Theo truyền thuyết, nghi lễ này đã từng được giải thích trong tác phẩm Phong thần diễn nghĩa. Theo truyền thuyết, Khương Tử Nha đã phụng sự cho Ngọc Đế phong cho ba bà Tiên đảo gồm Vân Tiêu, Quỳnh Tiêu và Bích Tiêu, là những môn đồ của Quỳnh Linh Thánh Mẫu, giữ giữ 'kim đẩu hỗn tạp'. Cuộc sống con người thay đổi từ 'kim đẩu' này. Vân Tiêu, Quỳnh Tiêu, Bích Tiêu được gọi chung là 'Tam Cô', hay 'Chú Sinh Nương Nương'. Chú Sinh Nương Nương còn gọi là Thụ Tử Thần (thần ban con), và có 12 bà chị ('mười hai bảo mẫu' hay 'mười hai thư bà', 'mười hai cô gái'). Mười hai thư bà có những tư thế khác nhau, hình ảnh người phụ nữ mang thai, cầm tay con, cho con bú, v.v.
| Bà Mụ | Nhiệm vụ |
|---|---|
| Bà Mụ Trần Tứ Nương | Trong coi việc sinh sản (chú sanh) |
| Bà Mụ Vạn Tứ Nương | Trong coi việc thăm nghén (chú thai) |
| Bà Mụ Lâm Cửu Nương | Trong coi việc thụ thai (thủ thai) |
| Bà Mụ Lưu Thất Nươn | Trong coi việc nặn ra hình hài (chú nam nữ) |
| Bà Mụ Lâm Nhất Nương | Trong coi việc chăm dưỡng bào thai (an thai) |
| Bà Mụ Lý Đại Nương | Trong coi việc chuyển dạ (chuyển sanh) |
| Bà Mụ Hứa Đại Nương | Trong coi việc khai hoa, nở nhụy (hộ sản) |
| Bà Mụ Cao Tứ Nương | Trong coi việc ở cữ (dưỡng sanh) |
| Bà Mụ Tăng Ngũ Nương | Trong coi việc em bé sơ sinh (bảo tống) |
| Bà Mụ Mã Ngũ Nương | Trong coi việc ẵm bế trẻ nhỏ (tống tử) |
| Bà Mụ Trúc Ngũ Nương | Trong coi việc giữ trẻ (bảo tử) |
| Bà Mụ Nguyễn Tam Nương | Trong coi, giám sát, chứng kiến việc sinh (giám sanh) |
Theo sách Đài Bắc thời ký, tại Từ Hựu Cung Sơn ở Đài Bắc, có đến 13 bà mẹ sinh con và một bà Đỗ Ngọc Nương chuyên nhận sanh vật (trợ giúp sanh).
Lễ cúng Mụ trong các dân tộc thiểu số
Khi một đứa trẻ dân tộc Bố Y sinh ra 3 ngày, và hiện nay hầu hết khi đủ tháng, gia đình mới tổ chức lễ cúng Mụ và đặt tên cho con. Dân tộc Dao thường tổ chức lễ cúng Mụ khi đứa trẻ được 3 ngày, gọi là lễ 'nam han', thường mổ lợn, gà, vịt để cúng tạ ơn bà Mụ tại động Đào Hoa Lâm Châu, nơi bà Mụ ngụ trên thiên đường của họ.
Lễ cúng Mụ
Trong lễ cúng Mụ, việc chuẩn bị lễ vật rất quan trọng và cần phải được thực hiện kỹ lưỡng và chu đáo. Lễ cúng Mụ của người Việt thường bao gồm 12 lễ nhỏ (cúng 12 bà Mụ) và 1 lễ lớn (cúng bà Mụ Chúa). Các lễ vật thông thường bao gồm:
- Đồ vàng mã: các đôi hài màu xanh, nén vàng màu xanh, váy áo màu xanh.
- Trầu cau: trầu têm cánh phượng, 12 miếng trầu với cau bổ tư và 1 miếng to hơn với cau nguyên quả
- Đồ chơi trẻ em bằng nhựa hoặc sành sứ: Gồm các bộ đồ chơi giống hệt nhau với bát, đũa, thìa, chén cốc, con giống, xe cộ, nón, mũ v.v.
- Động vật: cua, con ốc, tôm để sống hoặc có thể hấp chín. Các động vật này có 12 con kích thước bằng nhau và có một con to hơn. Hoặc nếu không có con to hơn thì thay bằng ba con nhỏ. Các con này để vào bát bày cúng và sau khi cúng xong thì đem thả ra ao, hồ phóng sinh.
- Phẩm oản: Cũng chia 12 phần đều nhau và một phần lớn hơn (hoặc nhiều hơn).
- Lễ mặn: bao gồm xôi, gà luộc, cơm, canh, món ăn, rượu trắng
- Kẹo bánh: Chia thành 12 phần và một phần to hơn (hoặc nhiều hơn).
- Hương hoa: hương, lọ hoa nhiều màu, tiền vàng, nước trắng.
Tất cả các lễ vật được sắp xếp một cách hài hòa, cân đối, nằm ở trung tâm trên bàn thờ, trong đó lễ vật cúng các bà mụ được chia làm 12 phần nhỏ bằng nhau và một phần to hơn. Mâm lễ mặn với hương, hoa, nước trắng được đặt ở trên cùng và mâm tôm, cua, ốc được đặt ở phía dưới.
Tại một số vùng miền, lễ vật có thể thay đổi tùy theo nghi thức đầy tháng hay thôi nôi. Trong ngày đầy tháng, gia đình có thể chuẩn bị mâm lễ vật cúng kính 12 bà Mụ gồm 12 chén chè, 3 tô chè, 3 đĩa xôi và một mâm cúng kính 3 ông Đức với con vịt luộc chín, 3 chén cháo và 1 tô cháo v.v. Trong khi đó tại lễ thôi nôi, ngoài lễ vật chè, xôi, vịt luộc cúng bà Mụ - ông Đức như trong lễ đầy tháng, còn có lợn quay cúng đất đai, thổ công, thổ chủ. Mâm bày ngoài sân bên cạnh lợn quay còn có 5 chén cháo, 1 tô cháo, 1 đĩa lòng lợn, rau sống, nhang, đèn, rượu, trà, hoa quả, trên lưng lợn quay gắn một con dao bén. Trong nhà thì bày 3 mâm cúng với lễ vật là những món ăn chín phù hợp với phong tục từng địa phương. Kế bên có 12 chén chè, xôi; con vịt luộc chín với 3 chén cháo và 1 tô cháo cúng 12 bà Mụ và 3 ông Đức.
Nghi thức cúng
Sau khi hoàn thành lễ cúng, bố hoặc mẹ sẽ thắp 3 nén hương, sau đó đưa bé ra trước án và thực hiện nghi thức cúng Mụ. Nghi thức cúng Mụ, tùy theo địa phương, có thể có biên bản khác nhau, nhưng thường bắt đầu bằng việc tôn trọng xưng danh các bà Mụ, thần thánh; ngày tháng cúng; tên của hai vợ chồng và tên của đứa trẻ là trọng tâm của lễ cúng, nơi sinh sống của gia đình; lý do cúng; bày tỏ lòng biết ơn công lao của các bà Mụ và cuối cùng là lời cầu mong các bà hộ trì phù hộ.
Khi đã kết thúc nghi thức, thực hiện 3 lễ vật và sau 3 tuần thực hiện nghi thức tạ. Vàng mã sẽ được biến thành tài lộc, thức ăn sẽ được gia đình thưởng thức; động vật sống sẽ được thả về tự nhiên; đồ chơi sẽ được giữ lại cho em bé và phân phát cho trẻ em hàng xóm, người thân khác.
