
| Tết Nhật Bản | |
|---|---|
Người dân đi lễ chùa đầu năm | |
| Tên gọi khác | Oshougatsu |
| Cử hành bởi | Người Nhật Bản trên toàn thế giới |
| Kiểu | Tôn giáo, văn hoá |
| Ý nghĩa | Ngày đầu tiên theo dương lịch |
| Bắt đầu | 31 tháng 12/1 tháng 1 dương lịch |
| Kết thúc | 4 tháng 1 dương lịch |
| Ngày | 1 tháng 1 |
| Cử hành | Thăm hỏi người thân Mừng tuổi Viết thiệp chúc mừng Trang trí nhà cửa |
| Liên quan đến | Tết Trung Quốc, Tết Việt Nam, Tết Triều Tiên |
Ngày xưa, lễ hội năm mới ở Nhật Bản (tiếng Nhật: shōgatsu 正月 (Chính Nguyệt) hay oshōgatsu) có sự tương đồng với Tết Trung Quốc, Tết Hàn Quốc và Tết Việt Nam theo âm lịch và ảnh hưởng của văn hóa Đông Á. Kể từ năm 1873, Nhật Bản chuyển sang sử dụng lịch Gregorian và ngày đầu năm mới rơi vào đầu tháng Giêng dương lịch. Đây là một trong những ngày lễ truyền thống quan trọng nhất trong năm, được tổ chức lâu đời và đã hình thành nhiều phong tục độc đáo.
Di sản
Trước thời Minh Trị, Nhật Bản dùng lịch âm giống như Việt Nam, Hàn Quốc và Trung Quốc để xác định ngày năm mới. Tuy nhiên, từ năm 1873, sau Minh Trị Duy Tân, Nhật Bản đã áp dụng lịch Gregorian, và ngày đầu tháng Giêng dương lịch chính thức trở thành ngày Tết ở Nhật Bản.
Ẩm thực truyền thống


Người Nhật thường thưởng thức một món ăn đặc biệt trong dịp Tết gọi là osechi-ryori (御 節 料理 hoặc お 節 料理?), thường được gọi tắt là osechi.
Chúc Tết
Người Nhật cũng tặng trẻ nhỏ tiền mừng năm mới trong những phong bao đặc biệt gọi là otoshidama-bukuro (お年玉袋?).
Ẩm thực truyền thống
Vào ngày đầu năm, người Nhật thường thưởng thức các món ăn đặc biệt gọi là Osechi. Trong số đó có súp Miso với Mochi (bánh giầy), cá thu cuộn rong biển Seetang (Kombu, kobumaki), cá xay nhuyễn (Kamaboko), khoai lang nghiền với hạt dẻ (kurikinton) và đậu đen ngọt (kuromame).
Lễ hội Oshogatsu ở Nhật Bản Lưu trữ 2019-06-21 tại Wayback Machine
