Lời cầu nguyện viết bằng chữ Nho còn được gọi là tế văn (祭文), đôi khi còn có tên khác như kỳ văn hay chúc văn, là một thể loại trong văn học Việt Nam.
Giải thích
Ngày xưa, trong các nghi thức tế lễ trời đất và núi sông thường có những bài văn cầu chúc. Sau này, khi mai táng người đã khuất, người ta cũng sử dụng văn tế để tưởng nhớ họ.
Theo sự phát triển của xã hội, nội dung văn tế ngày càng đa dạng. Nó thể hiện nỗi đau về mất mát, sự thương tiếc cho những người đã hy sinh vì nghĩa lớn, hoặc chỉ trích bất công như trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế đồng bào chết vì nạn bão lụt ở Nghệ - Tĩnh của Phan Bội Châu...; hoặc thể hiện nỗi đau và tiếng cười như trong Văn tế sống vợ của Trần Tế Xương, sự châm biếm trong Văn tế thuốc phiện, Văn tế xôi thịt của tác giả không rõ danh tính, hay sự mỉa mai trong Văn tế Cutxô của Nguyễn Văn Từ...
Văn tế là một loại văn bản được sử dụng trong các nghi lễ tế, cúng người đã khuất (cũng có thể dùng để cúng người còn sống trong những trường hợp đặc biệt); vì vậy, nó mang hình thức của lễ tế - cúng
Hình thức
Về mặt hình thức, văn tế có thể được viết dưới dạng văn vần, văn xuôi hoặc biền văn.
Một bài văn tế thường bao gồm các phần sau:
- Lung khởi: Trình bày những suy nghĩ chung về sự sống và cái chết, thường bắt đầu bằng các cụm từ như 'Than ôi', 'Than rằng', 'Thương ôi'...
- Thích thực: Miêu tả phẩm hạnh, công đức, và cuộc đời của người đã khuất, thường bắt đầu bằng các cụm từ như 'Nhớ cha (linh, ông) xưa'...
- Ai vãn: Diễn tả nỗi tiếc thương đối với người đã chết, thường bắt đầu bằng các cụm từ như 'Hỡi ôi' hoặc 'Ôi'...
- Kết: Bày tỏ lòng tiếc thương và cầu nguyện, lời mời của người cúng đối với linh hồn người chết, thường bắt đầu bằng các cụm từ như 'con (tôi, chúng tôi, bản chức…) nay' và kết thúc bằng các cụm từ như 'Phục duy', 'Thượng hưởng'...
Văn tế có thể được viết theo nhiều kiểu khác nhau, vì vậy tùy thuộc vào lựa chọn của người viết về thể loại cụ thể, cần tuân thủ các quy định của thể loại đó.
Ví dụ:
- Song thất lục bát: Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.
- Văn xuôi: 'Văn tế chị' của Nguyễn Hữu Chỉnh.
- Tán: 'Văn tế một công chúa' của Mạc Đĩnh Chi.
- Văn vần có đối: 'Văn tế Trương Quỳnh Như' của Phạm Thái.
- Phú cổ thể hoặc lưu thủy: Ví dụ như 'Bài phú sông Bạch Đằng' của Trương Hán Siêu...
Phổ biến nhất là lối viết văn tế theo thể phú, đặc biệt là phú Đường luật, như trong 'Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu' và các biến thể của kiểu này.
Bài văn tế theo phú Đường luật thường dùng cách hiệp vần (thường là một vần) và đặt câu theo trắc như phú; tuy nhiên, cách đặt câu (như cách cú, gối hạc, song quan...) có phần linh hoạt và uyển chuyển hơn, ví dụ như bài 'Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc' của Nguyễn Đình Chiểu...
Một số ví dụ về đoạn văn tế
Văn tế theo lối văn xuôi:
- Than ôi! Dòng nước sẽ trôi về đâu, có phải về Đông Hải chăng?
- Hồn của chị đang ở đâu, có phải về Đông Hải chăng?
- Hay là tại bồng hồ lãng mạn, hay tại tứ phủ thành đô, ao vàng sâu thẳm, chẳng biết thăng giáng nơi nào, bụi còn lưu lại hình hài đưa về cố hương, muôn nước nghìn non, xa cách vời vợi
- Ôi! Kiếp người như thế, như ánh sáng đèn, như mây trôi, như lửa đá, như giấc mộng, một khoảnh khắc rồi mất, dù chờ đợi trăm năm cũng không còn bao nhiêu...
- ...Giang đình một lá, phân ly đôi nơi. Chín suối ở đâu? Có linh thiêng xin nhận.
- (Trích từ bài Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh)
Văn tế theo lối tán: Một đám mây giữa trời xanh Một hạt tuyết trên lò đỏ Một bông hoa trên thượng uyển Một vầng trăng trên Dao trì Ôi! Mây tan, tuyết tan Hoa héo, trăng khuyết 青天一朵云, 烘炉一点雪。 上苑一枝花, 瑶池一片月。 唏!云散雪消, 花残月缺。
Dịch nghĩa:
- Một đám mây trên nền trời xanh,
- Một hạt tuyết trong lò sưởi trời,
- Một cành hoa trong vườn của vua,
- Một vầng trăng dưới ao tiên.
- Than ôi! Mây tan, tuyết lặn,
- Hoa héo, trăng vơi.
- (Văn tế một công chúa của Mạc Đĩnh Chi)
Chú thích
- Ngữ văn 11 (nâng cao), Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 35.
- Ngữ văn 11 (cơ bản), Nhà xuất bản Giáo dục, 2008, tr. 60.
- Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr. 144-145.
- Từ điển Văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Trẻ, 2004, tr. 1070-1971.
