
Suốt thời gian qua, tôi chỉ biết Nguyễn Hiếu qua vai trò của một nhà văn, một nhà soạn kịch. Thậm chí, tôi còn biết ông với hình ảnh của một nhà văn luôn sáng tạo. Không chỉ có một tập thể tác phẩm vĩ đại trong văn học và kịch nghệ, cũng như những giải thưởng danh giá mà ông đã đạt được, mà thôi, ông vẫn tiếp tục sáng tác không ngừng. Đột nhiên, tôi bất ngờ khi phát hiện ra rằng Nguyễn Hiếu còn là một nhà thơ, một nhà in thơ. 'Lời gọi từ quê hương' của NXB Văn học, xuất bản trong quý 4/2021, là một tác phẩm mới nhất của ông.
Khi đó, ông đã được vinh danh trong cuộc thi thơ do Bộ Thương mại (trước đây) tổ chức, và đã được nhận giải thưởng từ chính nhà thơ Xuân Diệu - một trong những thành viên của Ban Giám khảo. Lúc ấy, ông đã được nhà thơ Phạm Hổ biên tập và nhà thơ Chế Lan Viên gặp gỡ hai lần, và họ đã chia sẻ những ý kiến về việc sáng tác thơ.
Khi tiếp xúc với 'Lời gọi từ quê hương', tôi mới hiểu được rằng, ông đã bắt đầu sáng tác thơ từ khá sớm. Vào năm 1973, nhà văn Nguyễn Hiếu, người đã trở thành một nhà thơ, đã có những bài thơ được in trên báo Văn Nghệ - một trong những tờ báo hàng đầu về văn học ấy, 'điều này không phải là đùa đâu'.
Vài năm sau đó, nhà văn Nguyễn Hiếu đã xuất bản tập thơ đầu tiên mang tựa đề 'Những dòng thơ đi về chiến trường'. Sau đó, ông 'ly hôn' với thơ, và gần đây ông đã 'kết hôn' lại với nàng thơ.
'Làng mình' gồm 36 bài thơ đầy ắp tình cảm với quê hương. Có thể nhìn thấy điều này qua các tựa đề như 'Cây lúa trên bờ ruộng, Đùa cùng quan họ trong hội làng, Người phụ nữ của làng tôi, Người đàn ông của làng tôi, Bây giờ là lúc trở về quê hương, Làng nghèo của tôi, Nếu mai không còn làng trồng tre, Nhật ký ghi lại cuộc chiến chống lụt, Bây giờ làng của tôi, Mùa thu của làng.
Tính đến thời điểm này, đã có 10/36 bài thơ trong 'Làng mình' chứa từ 'làng', chiếm tỷ lệ 28%. Ngoài ra, còn có những bài thơ khác đề cập đến cuộc sống ở quê như 'Khúc hát của người nông dân đi chợ đêm', 'Em gái tôi lấy chồng ở xứ Huế', 'Chiếc nón trắng trên cánh đồng ơi, Khi mẹ đã ra đi, Quê hương trong một quá khứ, Trở về ngôi nhà của mẹ xưa...'
Tôi đã đọc rất nhiều thơ về cuộc sống ở quê. Đơn giản vì hầu hết các nhà thơ Việt Nam đều có nguồn gốc từ vùng nông thôn. Nếu họ không viết về nơi mà họ sinh ra và lớn lên, có lẽ sẽ là điều lạ lùng. Với Nguyễn Hiếu, tôi thấy tò mò vì ba lý do: ông là một nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng; ông sinh ra ở Hà Nội; và làng quê ven đô của ông khác biệt như thế nào so với làng quê 'thuần túy'?
Hóa ra, Nguyễn Hiếu cũng có một tuổi thơ đầy ấm áp với mùi hương của rơm và cỏ. 'Cây rơm dưới ánh chiều' là một trong những dòng thơ của ông, miêu tả những khoảnh khắc yên bình của tuổi thơ: 'Những bông mây nhẹ nhàng bay trong bầu trời chiều, như một bài ca êm đềm, cây rơm và cỏ mướt được thổi bay bởi gió nhẹ'. Nguyễn Hiếu là một người dễ thương, luôn vui vẻ, dù trong cuộc sống bận rộn. Đôi khi, tôi nghĩ rằng ông giống như nhân vật Thị Mầu trong văn học.
Đọc thơ ông, tôi mới nhận ra rằng, từ khi còn trẻ, ông đã là một người sắc sảo, đã từng say mê với nghệ thuật chèo: 'Trái tim mang gánh nặng miệng vẫn hát những lời ngọt/ Ta làm người Nô, ta ra đường hát/ Phú ông sáng nay viết thơ thảo/ Ta lang thang bên Súy Vân hóa thơ' (Tùy hứng chèo). Bài thơ này có lẽ được ông sáng tác từ lúc nào đó, nhưng cảnh ngộ của nó dường như là trong ký ức của ông khi còn bé, khi theo người lớn đi xem chèo. Khi đó, ông mặc quần đùi, dây lưng tụt, nhưng đã hiểu được cách 'dụ dỗ'.
Nguyễn Hiếu đã tận dụng những nguyên liệu đồng dao, những giai điệu và câu chuyện dân gian để 'dụ dỗ'. Bản chất của nghệ thuật chèo, được hiển hiện ngay trong Tùy hứng chèo, và về sau, trong kho tàng của mình, ông có rất nhiều kịch bản, vở hát cho sân khấu chèo Trung ương và địa phương.
Không chỉ Tùy hứng chèo, nhân vật Thị Mầu cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ khác của ông, như Trò chơi với quan họ trong ngày hội làng... hoặc với vai trò xứng đáng của mình trong Khi Thị Mầu khóc lóc vì yêu.
Gió ơi đừng làm lòng ta buồn thêm
Sông ơi, đừng để mặc lòng vương vấn qua cầu
Thôi rồi, lòng ơi, lòng hãy yên bình
Vùng vẫy tìm kiếm một giọt tình chân thành. Đừng nữa...
(Khúc tương tư Thị Mầu)
Thị Mầu, một nhân vật trong nghệ thuật chèo cổ. Trong tác phẩm 'Quan Âm Thị Kính', Thị Mầu được tưởng tượng là một nhân vật đặc biệt; được mô tả là tự tin, mạnh mẽ, quyến rũ, đáng trách, đáng yêu. Thị Mầu trở thành biểu tượng, cũng như từ 'oan Thị Mầu' đã trở thành thành ngữ, vẫn được nhắc đến cho đến ngày nay và có lẽ sẽ được nhắc đến trong tương lai.
Nhưng điều đáng chú ý về Thị Mầu là tính cách mạnh mẽ, dám đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ trong một xã hội cổ hủ. Bốn câu cuối trong bài thơ 'Khúc tương tư Thị Mầu' cho thấy rằng, Nguyễn Hiếu có phần lắng đọng với yếu tố trào phúng trong thơ, nhưng ẩn sau đó là một chiều sâu khác của con người, của sự giải phóng phụ nữ.
Nguyễn Hiếu sinh ra tại Trung Văn, Từ Liêm (cũ) nơi trù phú với đồng ruộng mênh mông. Không khí làng ngát hương rơm. Nay địa bàn đó đã trở thành phố, thuộc quận Thanh Xuân. Ông đã dành một thời gian dài cuộc đời sống ở Quỳnh Mai (quận Hai Bà Trưng) ngày xưa cũng là một ngôi làng.
Ngày xưa, khu vực đó là nơi của nhiều cánh đồng tre, nơi mà các con cò, đờn bạch bay về xây tổ trên những cành tre... Nay ông đã dời về làng Chèm, một thôn làng khác, dù hiện nay nó thuộc quận Bắc Từ Liêm. Có lẽ vì vậy, Làng của chúng ta đã qua nỗi buồn, nỗi nhớ thương về quá khứ.
Đâu rồi những cánh tre ơi
Sông cạn thuyền neo
Sáo Trương Chi im lặng
Đứa con không dám đưa cha ra ngoài chơi
Mây ngừng trôi. Diều ngừng bay
Gạo không qua sàng, cũng không vào nia
(Nếu ngày mai làng mất đi những cây tre)
Không chỉ là làng ở Thủ đô, nơi nhà văn Nguyễn Hiếu đã ra đời và lớn lên mà trước 'đợt sóng' đô thị, phong trào 'Nông thôn mới', làng quê vùng đồng bằng ở Việt Nam không còn nhiều cây tre. Ai mà không nhớ tới bài viết nổi tiếng 'Cây tre Việt Nam' của Thép mới, bài thơ 'Tre Việt Nam' của Nguyễn Duy?
Trong bài thơ 'Nếu mai làng không còn cây tre' của Nguyễn Hiếu, cây tre làm thuyền nan, gậy của người già, đan sàng, đan nia...(cụ nông dân), nhưng cây tre cũng là một phần của văn hóa (với hình ảnh 'sáo Trương Chi', cánh diều trẻ thơ).
Cây tre Việt Nam gắn bó với người nông dân trong lịch sử xây dựng nước, giữ nước, thân thuộc quá mức, thành một phần của 'linh hồn' của làng. 'Gạo không lọt sàng cũng không thể rơi xuống nia', Nguyễn Hiếu đã 'biến tấu' từ thành ngữ 'Lọt sàng rơi xuống nia' tạo ra ý nghĩa ẩn của câu thơ về đạo lý. Đúng vậy, làng không còn cây tre, nhiều yếu tố văn hóa làng cũng đã mất đi theo 'đô thị hóa' lệch hướng. Tre mất, làng trống.
Làng tôi ngày nay
Đường làng không còn gạch lát nghiêng
Bề mặt lớp bê tông cứng như khuôn mặt của kẻ nợ nần
Nắp ngói vụn vỡ, tan tành
Cây mít già đã bị chặt làm củi...
(Ngày nay làng tôi)
Có biết bao sự thay đổi. Những người sau lưng cây tre ở làng xưa phải đối mặt với việc mất ruộng, mất nghề, buộc phải nhập cuộc vào thành phố làm công việc như người giúp việc, thanh niên chạy xe bắt chước 'làm phè phè', 'Cô gái làng trang điểm môi theo kiểu Hàn Quốc'... Giữa 'có' và 'mất' là một câu hỏi, chưa ai có đủ câu trả lời.
'Dù bây giờ làng không còn cây tre uốn lưng chờ đợi như thời ta dạo bước dưới nắng chang chang, chân như cháy cả vì cát bên dòng sông hoang sơ, cánh buồm nâu vá trải rộng trắng bên trời'; 'Ta bước ngược lại tháng Tám xanh tươi đang bung hoa vàng rực, mùi canh cua nổi lên pha lê nơi tiếng chày buông lỏng nhịp, và nơi đó trở thành biển lớn dưới ánh sáng ban mai' (Bây giờ ta trở lại quê hương - thơ và văn).
Ông nói lên rằng 'Làng đó, liệu có phải là niềm nuối tiếc về quá khứ không'.
Viết về 'Làng của mình', mặc dù có yếu tố châm biếm, có yếu tố bắt chước; nhưng sâu trong thơ của Nguyễn Hiếu là cuộc sống, con người, nỗi buồn ngơ ngác. Ông viết hai bài thơ 'Phụ nữ làng tôi' và 'Đàn ông làng tôi' đặt cạnh nhau, khá thú vị. Bài 'Phụ nữ làng tôi' có 49 dòng, 'Đàn ông làng tôi' có 51 dòng. Phải nói là dài, tức thơ tự do bay nhảy trong cảm xúc. Tôi cảm thấy, đây là hai bài thơ đại diện cho nhiều góc nhìn.
Về nghệ thuật thơ ca, như TS. Nguyễn Văn Đường, cựu giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhận xét: 'Sự kết hợp giữa dân gian - hiện đại trong thơ của Nguyễn Hiếu được thể hiện rất rõ. Đó là sự hòa quyện giữa các loại thơ có 3, 4, 5 tiếng, thơ tự do với thơ lục bát một cách uyển chuyển, kết hợp hình ảnh, âm nhạc một cách tự nhiên, thoải mái mà thực sự là kết quả của sự nỗ lực, kiên nhẫn và thành công ở nhiều trường hợp'.
Thêm vào đó, Nguyễn Hiếu cũng thành công trong việc sáng tác thơ văn. Ngoài 'Bây giờ ta trở lại quê hương' đã đề cập, còn có 'Đối mặt với ngọn chóp chài' 'Sông Cái với những bãi cát mịn' 'Mấy ngày mưa liên tục' . Bốn bài thơ văn này mỗi bài đều gồm 5 đoạn.
Nguyễn Hiếu hoàn toàn tự nhiên, ông không kìm nén cảm xúc, không cố gắng che dấu khi thể hiện qua bài thơ. Tuy vậy, ông đã tạo ra một không gian thẩm mỹ hấp dẫn. Hãy xem hai dòng lục bát cuối cùng trong hai bài thơ tạo hình 'chân dung' đàn ông, đàn bà của làng:
Một bên gánh nặng cuộc đời
Vòng ngực mênh mông, trời cao sớm chiều
(Đàn bà của làng tôi)
Cơ thể này, muốn rượu muốn nem
Cả cái lúm đồng tiền... cũng không thoát khỏi sự tham lam!
(Người đàn ông của làng)
Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận xét: 'Nguyễn Hiếu vẫn đang giữ lại sự nhớ nhung của mình trong không gian làng'; nhà thơ Trần Anh Thái đã viết 'Tâm hồn của nhà thơ như một con thác, chìm đắm trong nỗi nhớ thương đầy sâu... Ông vẫn gọi, gọi mãi cho đến khi giọng nói trở nên yếu ớt'.
Trong 'Làng của mình', Nguyễn Hiếu đã viết về mẹ 'Đó, mẹ đã đi xa', về em 'Em gái tôi đã lấy chồng ở Huế' và thường nhắc đến mẹ trong nhiều bài thơ khác. Tình mẫu tử luôn là điều thiêng liêng, không quan trọng là ai 'Với tay đưa đời mẹ đền / Chân con vấn vương dưới bóng chiều' (Đó, mẹ đã đi xa).
Quê là mẹ, mẹ là quê, mẹ đã ra đi, làng còn đâu, dù vẫn sinh sống trên miền đất quê. 'Quê của ta ngày xưa ơi / Một bóng mờ trôi dọc bầu trời chợt qua' (Quê ngày xưa); 'Khi tôi quay về mái ấm cong kềnh, nhìn làng Chèm, nhìn làng Chèm của tôi' (Làng Chèm của tôi). Những dòng thơ đầy xót xa, đầy ấn tượng.
Dù xoay chuyển nhưng cuộc đời con người như cơn bão biển, cuối cùng mọi thứ đều trở nên không rõ ràng. Nguyễn Hiếu, trong nỗi đau thương và bi thương, đã nhận ra: 'Con thuyền nào cũng lênh đênh / Với trái tim nhân đạo, giữa những giấc mơ buồn ru lòng ta' (Ru ta). Dù ở bất kỳ tầng lớp nào, nhiệm vụ của nhà thơ vẫn là bảo tồn, cứu rỗi vẻ đẹp. Đó là lý do tồn tại và sáng tạo của nhà thơ. Với ý nghĩa đó, 'Làng của chúng tôi' trở thành một tập thơ của sự trải nghiệm và tỉnh thức.
Nhà thơ kiêm nhà văn Ngô Đức Hành
Theo báo Dân trí
