|
Luis Suárez Miramontes năm 1962 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Luis Suárez Miramontes | ||
| Ngày mất | 9 tháng 7 năm 2023 (88 tuổi) | ||
| Nơi mất | Milan, Ý | ||
| Chiều cao | 1,75 m (5 ft 9 in) | ||
| Vị trí | Tiền vệ | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| Perseverancia | |||
| 1949–1953 | Fabril | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1953–1954 | Deportivo La Coruña | 17 | (3) |
| 1954–1955 | España Industrial | 21 | (6) |
| 1955–1961 | Barcelona | 122 | (61) |
| 1961–1970 | Inter Milan | 256 | (42) |
| 1970–1973 | Sampdoria | 63 | (9) |
| Tổng cộng | 458 | (115) | |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1957–1972 | Tây Ban Nha | 32 | (14) |
| Sự nghiệp quản lý | |||
| Năm | Đội | ||
| 1975 | Internazionale | ||
| 1975 | Sampdoria | ||
| 1975–1976 | SPAL | ||
| 1976–1977 | Como | ||
| 1977–1978 | Cagliari | ||
| 1978–1979 | Deportivo La Coruña | ||
| 1980–1988 | U-21 Tây Ban Nha | ||
| 1988–1991 | Tây Ban Nha | ||
| 1992 | Inter Milan | ||
| 1994 | Albacete | ||
| 1995 | Inter Milan | ||
Thành tích huy chương | |||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Luis Suárez, tên đầy đủ là Luis Suárez Miramontes (2 tháng 5 năm 1935 – 9 tháng 7 năm 2023) là một huyền thoại bóng đá và huấn luyện viên nổi tiếng người Tây Ban Nha. Ông đã thi đấu ở vị trí tiền vệ cho các đội bóng như Deportivo de La Coruña, CD España Industrial, FC Barcelona, Inter Milan, Sampdoria và đội tuyển Tây Ban Nha. Suárez được vinh danh là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất của Tây Ban Nha, với kỹ năng rê bóng xuất sắc và những cú sút đầy sức mạnh. Năm 1960, ông trở thành cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên giành giải Quả bóng vàng châu Âu. Năm 1964, ông giúp đội tuyển Tây Ban Nha vô địch Euro 1964. Ông đã góp mặt trong đội hình thành công của FC Barcelona những năm 1950 trước khi gia nhập Inter Milan, nơi ông tiếp tục là một phần quan trọng của đội bóng huyền thoại Inter vĩ đại trong thập niên 1960. Suárez kết thúc sự nghiệp cầu thủ của mình vào năm 1973, sau ba mùa giải thi đấu cho Sampdoria.
Sau khi giải nghệ, Suárez chuyển sang làm huấn luyện viên. Ông từng dẫn dắt Inter Milan ba lần, trong đó hai lần là tạm quyền. Suárez cũng từng huấn luyện đội tuyển U21 Tây Ban Nha và đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha. Dưới sự dẫn dắt của ông, đội tuyển Tây Ban Nha đã có 27 trận đấu và vào đến vòng hai World Cup 1990. Ông cũng đã dẫn dắt một số câu lạc bộ ở Ý và Tây Ban Nha.
Ông qua đời vào ngày 9 tháng 7 năm 2023, hưởng thọ 88 tuổi. Cái chết của Suárez được cựu chủ tịch Inter Milan, Massimo Moratti thông báo. Ông đã nhập viện tại Ospedale Niguarda ở Milan vài ngày trước khi qua đời.
Tiểu sử
Bước khởi đầu sự nghiệp
Suárez bắt đầu sự nghiệp bóng đá tại câu lạc bộ Deportivo de La Coruña vào năm 1949 và thi đấu cho đội trẻ trước khi có màn ra mắt La Liga vào ngày 6 tháng 12 năm 1953 trong trận thắng 6-1 trước FC Barcelona. Các đồng đội của ông tại Deportivo bao gồm Pahiño và Arsenio Iglesias. Ông ra sân 17 trận và ghi 3 bàn trong mùa giải đó. Năm 1954, ông gia nhập FC Barcelona nhưng phần lớn mùa giải 1954-55, ông thi đấu cho CD España Industrial, đội dự bị của FC Barcelona.
FC Barcelona
Từ năm 1955 đến 1961, Suárez là trụ cột của FC Barcelona cùng với những đồng đội nổi bật như Ladislao Kubala, Zoltán Czibor, Sándor Kocsis, Ramallets và Evaristo. Dưới sự dẫn dắt của Helenio Herrera, FC Barcelona và Suárez đã giành cú đúp La Liga/Cúp Quốc gia Tây Ban Nha năm 1959 và La Liga/Fairs Cup (tiền thân của Cúp UEFA) năm 1960. Suárez cũng được vinh danh với giải Quả bóng vàng châu Âu năm 1960. Một trong những trận đấu cuối cùng của ông tại FC Barcelona là trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1961, nơi đội bóng để thua SL Benfica 2-3.
Inter Milan
Năm 1961, Suárez trở thành cầu thủ đắt giá nhất thế giới khi FC Barcelona chuyển nhượng anh cho Inter Milan với giá 142.000 bảng Anh. Ông tiếp tục theo chân HLV Helenio Herrera đến Inter. Suárez đã trở thành trụ cột trong đội hình Inter vĩ đại, giúp đội giành 3 chức vô địch Serie A, 2 Cúp C1 châu Âu và 2 Cúp Liên lục địa. Từ năm 1961 đến 1970, ông đã thi đấu 328 trận cho Inter và ghi được 55 bàn thắng.
Đội tuyển Tây Ban Nha
Suárez đã ra sân 32 lần cho đội tuyển Tây Ban Nha và ghi được 14 bàn thắng từ năm 1957 đến 1972. Ông có trận ra mắt vào ngày 6 tháng 12 năm 1957 với chiến thắng 6-1 trước đội tuyển Hà Lan và tham dự hai kỳ World Cup: 1962 và 1966. Thành công lớn nhất của ông với đội tuyển là chức vô địch Euro 1964, cùng với các đồng đội Josep Fusté, Amancio Amaro, José Ángel Iribar và Jesus María Pereda.
Thống kê sự nghiệp
Bàn thắng quốc tế
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 10 tháng 3 năm 1957 | Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha | Thụy Sĩ | 1–1 | 2–2 | Vòng loại World Cup 1958 |
| 2. | 31 tháng 3 năm 1957 | Sân vận động Heysel, Bruxelles, Bỉ | Bỉ | 0–2 | 0–5 | Giao hữu |
| 3. | 0–5 | |||||
| 4. | 8 tháng 5 năm 1957 | Hampden Park, Glasgow, Scotland | Scotland | 2–2 | 4–2 | Vòng loại World Cup 1958 |
| 5. | 13 tháng 3 năm 1958 | Sân vận động Công viên các Hoàng tử, Paris, Pháp | Pháp | 1–2 | 2–2 | Giao hữu |
| 6. | 15 tháng 10 năm 1958 | Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha | Bắc Ireland | 4–1 | 6–2 | |
| 7. | 28 tháng 6 năm 1959 | Sân vận động Śląski, Chorzów, Ba Lan | Ba Lan | 1–1 | 2–4 | Vòng loại Euro 1960 |
| 8. | 1–3 | |||||
| 9. | 22 tháng 11 năm 1959 | Sân vận động Mestalla, Valencia, Tây Ban Nha | Áo | 2–0 | 6–3 | Giao hữu |
| 10. | 3–0 | |||||
| 11. | 17 tháng 12 năm 1959 | Sân vận động Công viên các Hoàng tử, Paris, Pháp | Pháp | 0–1 | 4–3 | |
| 12. | 10 tháng 7 năm 1960 | Sân vận động Quốc gia, Lima, Peru | Peru | 0–2 | 1–3 | |
| 13. | 0–3 | |||||
| 14. | 26 tháng 10 năm 1960 | Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh | Anh | 2–2 | 4–2 |
Thành tích
FC Barcelona
- Quả bóng vàng châu Âu
- 1960
- Vô địch La Liga: 2 lần
- 1958-59, 1959-60
- Cúp Nhà vua Tây Ban Nha: 1 lần
- 1958-59
- Cúp Fairs: 2 lần
- 1957-58, 1959-60
Inter Milan
- Vô địch Serie A: 3 lần
- 1962-63, 1964-65, 1965-66
- Cúp C1 châu Âu: 2 lần
- 1963-64, 1964-65
- Cúp Liên lục địa: 2 lần
- 1964, 1965
Đội tuyển bóng đá Tây Ban Nha
- Danh hiệu vô địch châu Âu: 1 lần
- 1964
| Tiền nhiệm: Alfredo Di Stéfano |
Quả bóng vàng châu Âu 1960 |
Kế nhiệm: Omar Sivori |
Liên kết ngoài
- Thông tin về Luis Suárez trên trang RSSSF
- Thông tin về Luis Suárez trên trang của Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 04 tháng 02 năm 2012 tại Wayback Machine
- Thông tin về sự nghiệp huấn luyện của Luis Suárez trên trang của Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2009 tại Wayback Machine
Quả bóng vàng châu Âu |
|---|
