Mã bưu chính là dãy ký tự gồm chữ cái, chữ số, hoặc kết hợp của cả hai, được thêm vào địa chỉ gửi thư nhằm mục đích tự động xác định nơi đến cuối cùng của thư từ và bưu phẩm.
Mỗi quốc gia có hệ thống mã bưu chính riêng biệt. Mỗi mã bưu chính trong một quốc gia chỉ định một khu vực bưu điện cụ thể, có thể là một làng nhỏ, một thị trấn, hoặc một khu vực trong thành phố lớn. Một số mã đặc biệt có thể được dùng cho các tổ chức lớn như cơ quan chính phủ hoặc tập đoàn thương mại. Ví dụ như hệ thống Cedex ở Pháp.
Đức là quốc gia đầu tiên áp dụng hệ thống mã bưu chính vào năm 1941. Anh và Mỹ lần lượt áp dụng vào các năm 1959 và 1963. Đến tháng 2 năm 2005, có 117 trong số 190 quốc gia thuộc Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) đã có hệ thống mã bưu chính. Một số quốc gia khác như Ireland (dự kiến triển khai vào năm 2008), Hồng Kông, Panama, chưa áp dụng. Việt Nam bắt đầu sử dụng mã bưu chính từ năm 2004.
Cách sử dụng
Mỗi hệ thống bưu chính có phương pháp và quy định riêng về cách gán mã bưu chính. Ở các quốc gia nói tiếng Anh, mã bưu chính thường được viết sau địa chỉ nhận thư. Trong khi đó, các nước châu Âu quy định mã bưu chính được ghi trước tên thành phố, thị trấn hoặc khu dân cư.
Tại nhiều quốc gia châu Âu, nơi mà cấu trúc mã bưu chính của các nước khá giống nhau, việc ghi mã số quốc gia trước mã bưu chính là cần thiết để tránh sự nhầm lẫn. Các mã số quốc gia thường dựa trên ký hiệu biển số phương tiện, chẳng hạn như 'D' cho Đức, 'F' cho Pháp. Tuy nhiên, cách ghi này không phổ biến trong thực tế. Khi gửi thư quốc tế, mã bưu chính sẽ được ghi cùng với tên quốc gia nhận thư. Ví dụ:
- 'ENGLAND – SW1A 1AA' – Mã bưu chính của cung điện Buckingham, London, Vương quốc Anh.
- '75005 FRANCE, Paris' – Mã bưu chính của Điện Panthéon, Paris.
Hầu hết các hệ thống mã bưu chính đều sử dụng chỉ số số. Một số quốc gia áp dụng hệ thống mã bưu chính kết hợp số và chữ bao gồm: Andorra, Argentina, Bermuda, Brunei, Canada, Jamaica, Malta, Moldova, Hà Lan, Vương quốc Anh, Venezuela.
Mã bưu chính Hoa Kỳ
Từ năm 1963, Cục Bưu điện Hoa Kỳ đã áp dụng hệ thống mã bưu chính ZIP code gồm 5 chữ số. Đến những năm 1980, hệ thống được mở rộng với bộ mã ZIP+4.
Mã bưu chính Việt Nam
Kể từ năm 2004, theo chỉ thị của Bộ Bưu chính Viễn thông, Việt Nam đã bắt đầu sử dụng mã bưu chính dựa trên các quy định quốc tế và hướng dẫn của Liên minh Bưu chính Thế giới. Mã bưu chính của Việt Nam bao gồm ít nhất 6 ký tự số, giúp xác định vị trí của các tỉnh, thành phố, quận, huyện và các địa chỉ cụ thể trong toàn quốc.
Bưu điện Việt Nam chính thức công bố mã bưu chính vào năm 2009.
