
Dưới đây, Mytour xin gửi đến bạn đọc hai trích đoạn trong tập hồi kí tiêu biểu cho hai nguồn cảm hứng này.
Những năm tháng gian nan...
“Phải sống thế nào đây?
Phải bới đất nhặt cỏ, tìm thêm công việc để làm! Chúng tôi trồng rau, nuôi gà. Phòng nhận đan áo len cho mậu dịch, cho khách quen. Phòng khéo tay, đan rất nhanh và đẹp. Dù công xá chẳng đáng bao nhiêu, nhưng vẫn hơn không. Xí nghiệp Cao su Thống Nhất, 41 đường Nam Bộ, nơi Phòng làm kỹ sư, sản xuất dép tông kiểu Thái Lan. Phòng xin được việc cắt ba via quai dép, đem về nhà một đống quai và hai cái kéo, mấy mẹ con cùng làm kiếm thêm vài hào mỗi ngày. Nhưng công việc này cũng không bền. Người ở xí nghiệp thiếu đói nhiều, công việc lại ít.
Sống thế nào đây? Phải tằn tiện, giật gấu vá vai, gạo không đủ ăn thì độn thêm ngô khoai sắn vào. Không dám mua thêm giá ngoài, sợ vi phạm chính sách lương thực, mà thực ra cũng không có tiền để mua.
Thịt, cá, trứng nếu có thì dành cho con trẻ. Có được hộp sữa thì ưu tiên cho mẹ già. Lương hai vợ chồng gộp lại rồi chia ra các khoản phải chi như: tiền gạo, tiền dầu, rất tiết kiệm. Phòng là người cơ chỉ, dè sẻn trong chi tiêu, mẫu mực trong lối sống của một người mẹ người vợ hiền thục, nhịn nhường.
Sống thế nào đây lúc này? Với tôi, chỉ còn một cách là cắn răng làm việc, kiên trì nhẫn nại từng bước một. Tôi không nói ngoa. Những truyện ngắn và cuốn tiểu thuyết dài chính là những mơ ước, dự định đã nuôi dưỡng niềm vui sống của tôi, giúp tôi vượt qua thử thách cay nghiệt. Tôi vẫn viết. Ngồi trong căn buồng chật hẹp mùa hè như cái lò thiêu, tôi viết và cất giấu dưới gầm giường. Viết cũng là cách cải thiện đời sống, để bữa cơm có thêm vài hột lạc. Năm 1976, 1977, tôi có hai truyện ngắn Vụ chè ba ở Pản Phố và Công trường mở ở nơi xa, đăng ở Văn nghệ Quân đội, được trả 33 và 29 đồng. Truyện ngắn Tiếng chim của tôi đăng ở báo Phụ nữ số 35 tháng 9 năm 1976 được trả tới 40 đồng. Cũng may hồi đó các chi phí giấy tờ, học hành, việc làm còn không đáng kể. Cháu Đinh Trọng Thuỷ vào học mẫu giáo Ba Đình nhờ bạn tôi Thuỷ Toàn và thầy Đỗ Như Định ở Sở Giáo dục giúp. Lên lớp 8, con gái Đinh Hoàng Ngân không mất đồng nào, trong khi dư luận nói phải mất ít nhất 150 đồng.
Phải viết! Để chuẩn bị cho những tác phẩm dài hơn, cần ghi chép kịp thời những ấn tượng của cuộc sống hôm nay, đời sống lúc này, ngay nơi mình sinh sống, ở cơ quan, ngay cái ngõ nhỏ số 221 nhếch nhác này.
Cái ngõ tôi ở hồi ấy rất tồi tàn. Số nhà 4 là nơi ở của nhiều gia đình lao động, gồm một gia đình công nhân nhà máy điện, một gia đình có ông mắc bệnh cùi, bà vợ nội trợ và lũ con gái làm đủ nghề linh tinh, hai gia đình khai hoang Tây Bắc bỏ về, nay vợ đi buôn, chồng đạp xích lô, và gia đình tôi.
Mấy gia đình sống như trong ổ chuột, quây quần quanh một cái sân lầy lội than bùn. Lũ gà vịt ngan ngỗng lấm lem làm chủ nơi này. Chúng được thả rông, con nào con nấy ngược ngạo táo tợn, đá nhau, mổ nhau loạn xạ, bay vù vù mổ thóc ngô, cá khô phơi trên các kiêu gạch, mái vẩy.
Cái ngõ ấy sau này xuất hiện trong tiểu thuyết Mưa mùa hạ của tôi. Một lần, Bùi Bình Thi tới thăm tôi ốm, đứng trước cửa nhà tôi, tấm tắc: “Đất này đúng là đất tiểu thuyết của Kháng rồi!”.
Tôi đã lắng nghe, dõi theo cuộc đời, sống với tất cả cung bậc và huyền thoại của nó, như G. Márquez từng nói. Ôi, cái ngõ nghèo nàn, yêu dấu của tôi!
Những năm tháng nhớ thương…
“Trong những ngày cơ cực ở túp nhà ổ chuột trong hẻm 221 phố Nguyễn Khuyến, tôi viết được từng trang rồi cất dưới gầm giường cùng đám nồi niêu xoong chảo, và từ đó ra đời tiểu thuyết Mưa mùa hạ. Những ngày đói rét, chân tay tê cóng vì bệnh thấp khớp, ở ngôi nhà tập thể trên phố Cốc Lếu, Lào Cai, tôi đã viết Đồng bạc trắng hoa xòe. Tại căn hộ 302 nhà B2 phường Thành Công, tôi hoàn thành Mùa lá rụng trong vườn, Côi cút giữa cảnh đời, Đám cưới không có giấy giá thú. Ở căn nhà cấp 4 cũ nát, tiền thân của ngôi nhà khang trang hiện nay, tôi đã viết Chó Bi, đời lưu lạc, Ngược dòng nước lũ và nhiều truyện ngắn về cuộc sống cuối thế kỷ XX.
Hiện nay, ở ngôi biệt thự quá sang trọng này, sau khi may mắn vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, ở tuổi ngoài 70, được hưởng những tiến bộ của y học, nhờ sự tận tình của các bác sĩ, sự chăm sóc của gia đình và bạn bè, tôi có thêm thời gian sống. Cùng với việc nghỉ ngơi, trông nom mấy đứa cháu, tôi vừa chạy đua với thời gian vừa thong thả nhớ lại và viết nốt những gì còn dang dở. Đó là ghi chép về cuộc đời mình, những điều tôi đã trải qua, đã thấy, đã nhận ra, trong vai trò một nhân chứng. Không tham vọng gì lớn lao, chỉ là cuộc trò chuyện với chính mình, hoặc với người thân trong gia đình và bạn bè thân thiết.
*
Vâng, tôi sẽ viết hồi kí. Tôi sẽ viết. Viết vì sự tự ý thức, vì sự thôi thúc. Thật không ngờ, ý nghĩ viết hồi kí càng lúc càng trở nên da diết, nhất là khi đã ngoài 70 tuổi. Tôi nhận ra, ám ảnh ghê gớm của tuổi tác càng ngày càng trở nên thường trực. Rồi ai cũng đến lượt phải từ biệt cõi đời này thôi! Điều đơn giản này khi vào tuổi bảy mươi đã trở thành mặc định thường xuyên trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi mới thông cảm với Xuân Diệu khi ông tranh thủ từng giờ từng phút sống, và ở tuổi sáu mươi, khi làm việc gì cũng cố gắng làm cho xong, với ý nghĩ có thể ngày mai mình chẳng còn trên đời nữa. Tuổi già và những tai biến bất ngờ có thể bứt ta ra khỏi thế giới này bất cứ lúc nào mà ta không hay biết. Ý nghĩ này thật yếm thế, nhưng biết làm sao được, vì đó là đề tài tôi thường trò chuyện với Phong Lê, Hà Minh Đức, Phương Lựu... những bạn đồng nghiệp đồng tuổi!
Cuối tuổi 60, tôi nhận ra sự lão hóa đã xuất hiện trong từng bộ phận cơ thể mình. Năm 1998, tôi mổ phaco thay thủy tinh thể mắt trái, năm 2001 thay nốt mắt phải. Hai chiếc răng số 6 hàm trên đã gãy rụng. Bệnh cao huyết áp kéo dài gần hai mươi năm nay không thuyên giảm. Tim thỉnh thoảng mất nhịp. Bệnh viêm xoang viêm mũi mãn tính tái phát mỗi khi trở trời. Dù luôn nhắc nhở mình nên quên hận thù, tuổi tác và bệnh tật, nhưng làm sao quên được khi tuổi 70 đã là xưa nay hiếm!
Bố tôi mất vì bom Pháp năm ông 47 tuổi. Cách đây hai năm, cô em gái Đinh Thị Nhật bị đau thắt ngực, đưa vào bệnh viện cấp cứu và được chẩn đoán tắc động mạch vành. Mẹ tôi qua đời vì bệnh tim khi bà 73 tuổi. Khi mẹ mất, anh cả Đinh Trọng Lạc buồn bã nói: “Thế là thế hệ bố mẹ đã hết, giờ đến lượt chúng mình rồi!”. Anh cả mất năm 2001, cũng 73 tuổi, vì nhồi máu cơ tim. Thế hệ trước như hàng cây chắn gió, giờ đã thưa dần. Cái chết lần lượt đến với từng người, và một lúc nào đó, chúng ta không khỏi bàng hoàng khi nhận ra nó đã đến gần mình, qua sự ra đi của người thân và bạn bè cùng trang lứa. Xuân Thiều nói gia đình ông không ai sống quá 72, ông đã vượt qua và mất ở tuổi 76. Phan Cự Đệ mất đột ngột năm 75 tuổi, hơn tôi ba tuổi.
Thế đấy! Trời đất là sân khấu, bi kịch là sinh mệnh. Dù đã thấm nhuần triết lý phương Đông, nhưng khi nghĩ về cái kết cục của đời người vẫn không tránh khỏi cảm giác nao nao buồn.
Những miên man cùng tập hồi kí “Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của nhà văn Nguyên An
“Bạn đã đọc, xin hãy đọc lại, đọc thêm Ma Văn Kháng, đặc biệt là tập hồi kí Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương này sẽ nhận ra nhiều điều về văn chương và cuộc đời. Tôi tin rằng chúng ta sẽ đồng ý với nhau rằng: Văn thi gia đích thực của mọi thời là những người có sứ mệnh thiêng liêng, cất lên tiếng nói nghệ thuật, giúp mọi người hiểu thấu những nhọc nhằn của kiếp nhân sinh, và từ đó nhắc nhở nhau: Hãy yêu thương và hiểu nhau hơn, cùng nắm tay xây dựng lại cuộc sống như nhà thơ Tố Hữu đã kêu gọi từ giữa thế kỷ trước.
Trung thực với chính mình và tổ chức, chí tình chí nghĩa với bạn bè, đồng chí, Ma Văn Kháng đã viết hồi kí một cách mạnh dạn và thẳng thắn. Tác phẩm không chỉ hấp dẫn người đọc bằng nhiều chi tiết cụ thể, mà còn như một phép thử đối với xã hội, đặc biệt là giới công chức, trí thức và các cán bộ quản lý, chỉ đạo.
Trong Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, tác giả sử dụng giọng hồi kí nhẹ nhàng, ôn tồn và chậm rãi, khiến người đọc cảm nhận được sự bùi ngùi, có lúc là rưng rưng đầy xót xa, xen lẫn sự thương mến và trân trọng. Đôi khi, giữa nhịp điệu văn xuôi đều đặn dễ làm người ta chìm vào giấc ngủ, lại vang lên những lời chát chúa, đáo để, như thì thầm muốn kìm nén nỗi bi thương, khiến câu chuyện thêm phần sâu sắc và cảm động.
