| Marc Márquez | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Márquez trước mùa giải MotoGP 2021 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Quốc tịch | Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sinh | 17 tháng 2, 1993 (31 tuổi) Cervera, Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Đội đua hiện tại | Gresini Racing | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Số xe | 93 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Marc Márquez Alentà (sinh ngày 17 tháng 2 năm 1993) là một tay đua MotoGP nổi tiếng đến từ Tây Ban Nha. Anh được xem là một trong những tay đua xuất sắc nhất trong lịch sử. Đến năm 2020, Marquez đã giành 8 chức vô địch thế giới và có nhiều chiến thắng chặng. Anh cũng nắm giữ nhiều kỉ lục khó bị phá vỡ.
Trong suốt sự nghiệp, Marc Marquez luôn sử dụng số xe 93.
Quá trình sự nghiệp
2008-2010: Marquez tham gia thi đấu ở hạng 125cc và giành chức vô địch mùa giải 125cc năm 2010.

2011-2012: Marquez tham gia thi đấu ở hạng Moto2. Trong mùa giải 2011, khi đang có cơ hội tranh chức vô địch, Marquez bị chấn thương trong khi tập luyện ở GP Malaysia, khiến anh không thể tham gia cuộc đua chính và phải bỏ lỡ chặng cuối cùng của mùa giải. Điều này đã khiến anh không thể giành được chức vô địch và kết thúc ở vị trí thứ hai.
Vào năm 2012, Marquez lại không thể tham gia GP Malaysia. Tuy nhiên, anh đã kịp giành chiến thắng ở GP Úc 2012 ngay sau đó. Ở chặng đua cuối cùng tại GP Valencia, dù xuất phát từ vị trí thứ 33 do bị phạt, Marquez vẫn chiến thắng nhờ vào sự vượt trội của mình trong cuộc đua.

Mùa giải 2013: Marquez đã giành chức vô địch ngay trong mùa giải đầu tiên tham gia MotoGP, lập kỷ lục tay đua trẻ nhất vô địch. Trước đó, anh đã trở thành tay đua trẻ nhất chiến thắng MotoGP sau khi chiến thắng tại GP Americas. Trong số 6 chiến thắng của mùa giải, có 4 chiến thắng liên tiếp ở giữa mùa. Marquez đã lên podium ở tất cả các cuộc đua mà anh hoàn thành, chỉ có 2 lần không cán đích là tại Mugello (bỏ cuộc) và Philip Island (bị vẫy cờ đen).

Mùa giải 2014: Marquez bắt đầu mùa giải 2014 với phong độ ấn tượng, khi giành 10 chiến thắng liên tiếp, giúp anh đoạt chức vô địch sớm trước 3 chặng đua. Tuy nhiên, anh gặp khó khăn ở những chặng cuối mùa, bỏ cuộc một lần (tại GP Úc) và không có mặt trên podium 3 lần.
Mùa giải 2015: Sự thiếu ổn định của Marquez tiếp tục diễn ra trong mùa giải 2015. Trong khi anh có 5 chiến thắng, thì cũng có 6 lần anh phải bỏ cuộc và nhiều kết quả không như ý khác, dẫn đến việc anh từ bỏ cơ hội bảo vệ danh hiệu vô địch.
Mùa giải này cũng chứng kiến cuộc đối đầu gay gắt giữa Marquez và thần tượng Valentino Rossi, đỉnh điểm là xung đột tại GP Malaysia. Rossi cảm thấy Marquez đang khiêu khích nên đã đạp ngã Marquez, bị phạt xuất phát từ cuối cùng ở cuộc đua tiếp theo. Cuối cùng, cả Marquez và Rossi đều không giành được chức vô địch, mà người chiến thắng là Jorge Lorenzo.
Mùa giải MotoGP 2016: Marquez tiếp tục đối đầu với hai tay đua của đội Yamaha là Rossi và Lorenzo. Dù chỉ có thêm 5 chiến thắng như mùa giải trước, nhưng anh chỉ bỏ cuộc một lần ở GP Úc sau khi đã chính thức lên ngôi vô địch. Trong khi đó, Rossi và Lorenzo gặp nhiều khó khăn và bỏ cuộc nhiều lần. Marquez đã giành chức vô địch sớm trước 3 chặng đua nhờ chiến thắng tại GP Nhật Bản, nơi cả Rossi và Lorenzo đều không thể cạnh tranh hiệu quả.
Mùa giải 2017: Marc Marquez bắt đầu mùa giải 2017 một cách chậm chạp, chỉ giành được 1 chiến thắng tại GP Americas và phải bỏ cuộc ở 2 chặng đua (GP Argentina và GP Pháp). Sau chặng đua thứ 6 tại Italia, Marquez đứng thứ 4 trên bảng xếp hạng tổng, khi ngôi đầu bảng thuộc về Maverick Viñales. Cuộc đua vô địch của Marquez chỉ thực sự bùng nổ từ chặng đua tại sân nhà GP Catalunya (về nhì).
Cùng thời điểm đó, tay đua Andrea Dovizioso của đội đua Ducati đã trở thành đối thủ chính của Marquez trong suốt 3 năm (đến năm 2019). Marquez thường gặp khó khăn ở các trường đua đặc trưng của Ducati trước Dovizioso. Tuy nhiên, anh luôn biết cách lấy lại ưu thế ở các trường đua khác. Mặc dù Marquez có nhiều lần bỏ cuộc hơn Dovizioso và cả hai đều có số chiến thắng bằng nhau (6 chiến thắng), Marquez vẫn bảo vệ được danh hiệu vô địch ở chặng đua cuối cùng GP Valencia nhờ số lần lên podium vượt trội (Marquez có 12 lần lên podium, Dovizioso có 8 lần).
Mùa giải 2018: Trong mùa giải 2018, Dovizioso không có kết quả tốt ở 9 chặng đua đầu mùa khi chỉ giành 1 chiến thắng và bỏ cuộc 3 lần. Vì vậy, áp lực lên Marquez không lớn như mùa giải trước và tay đua số 93 đã lên ngôi vô địch sớm trước 3 chặng đua tại GP Nhật Bản. Trong lễ ăn mừng chức vô địch, Marquez đã bị trật khớp vai do đồng nghiệp ôm quá chặt.
Sau khi chính thức lên ngôi vô địch, Marquez phải bỏ cuộc ở GP Úc do bị Johann Zarco tông vào đuôi xe. Tại chặng đua cuối cùng của mùa giải, GP Valencia, Marquez đã bị ngã ở race-1 trong điều kiện trời mưa và không thể tham gia race-2.
Một sự kiện đáng chú ý khác là Marquez đã dính vào một scandal lớn tại chặng đua GP Argentina, khi anh bị phạt đến 3 lần, trong đó có lỗi đẩy ngã Valentino Rossi.
Mùa giải 2019: Vào mùa giải 2019, Marquez có một đồng đội mới là Jorge Lorenzo (thay thế Dani Pedrosa đã giải nghệ). Tuy nhiên, Lorenzo gặp phải nhiều vấn đề, khiến Marquez không phải đối mặt với sự cạnh tranh đáng kể từ đồng đội từng ba lần vô địch MotoGP này.
Trong suốt mùa giải, Marquez chỉ phải bỏ cuộc một lần duy nhất tại Austin do bị ngã xe khi đang dẫn đầu. Sự cố này đã chấm dứt chuỗi chiến thắng liên tiếp của Marquez tại Austin. Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng nhiều đến cuộc đua vô địch của Marquez, bởi ở các chặng đua còn lại, anh chỉ về nhất (12 lần) hoặc nhì (6 lần). Với phong độ ấn tượng đó, Marquez dễ dàng giành chức vô địch sớm trước 4 chặng đua, sau chiến thắng tại GP Thái Lan.
Ngoài Dovizioso, mùa giải 2019 còn chứng kiến sự xuất hiện của một tay đua mới có thể gây khó khăn cho Marquez, đó là Fabio Quartararo.
Mùa giải 2020: Vì Jorge Lorenzo quyết định hủy hợp đồng, Honda đã chọn giải pháp tạm thời là để người em trai Álex Márquez làm đồng đội của Marc Marquez.
Mùa giải này là thời kỳ khó khăn nhất trong sự nghiệp của Marc Marquez khi anh bị gãy tay ngay tại chặng đua khai mạc GP Tây Ban Nha ở trường đua Jerez. Marquez được phẫu thuật ngay lập tức và cố gắng trở lại ở chặng đua thứ hai-GP Andalucia cũng tại Jerez, nhưng không thành công. Sau đó, anh còn bị tái phát chấn thương và phải phẫu thuật nhiều lần, dẫn đến việc phải nghỉ thi đấu cho phần còn lại của mùa giải.
Mùa giải MotoGP 2021: Marc Marquez chỉ có thể trở lại thi đấu từ chặng đua thứ 3-GP Bồ Đào Nha. Do sức khỏe chưa hoàn toàn hồi phục, anh không đạt được kết quả cao. Marquez có cơ hội chiến thắng ở cuộc đua trên đường ướt GP Pháp, sau khi thay xe và dẫn đầu, nhưng đã bị ngã. Đây cũng là lần đầu tiên trong chuỗi 3 chặng đua liên tiếp mà anh phải bỏ cuộc.
Dù vậy, Marquez vẫn kịp giành chiến thắng ở hai chặng đua sở trường là MotoGP Đức và MotoGP Americas. Anh có chiến thắng thứ 3 trong mùa giải tại MotoGP Emilia Romagna sau khi Francesco Bagnaia bị ngã khi dẫn đầu. Tuy nhiên, Marquez lại bị chấn thương khi tập luyện và không thể tham gia chặng đua áp chót tại trường đua Algarve.
Mùa giải MotoGP 2023: Vào ngày 4 tháng 10 năm 2023, Honda thông báo rằng hợp đồng với Marquez sẽ kết thúc sớm một năm sau khi mùa giải 2023 kết thúc. Marquez sẽ gia nhập Gresini Racing vào mùa giải 2024 với bản hợp đồng 1 năm.
Mùa giải MotoGP 2024: Việc Marquez chuyển đến Gresini Racing để thi đấu trong mùa giải 2024 được chính thức công bố vào ngày 15 tháng 10 năm 2023, sau 10 năm gắn bó với Repsol Honda. Marquez sẽ tái hợp với người em trai Alex Marquez tại Gresini Racing với tư cách là đồng đội.
Cuộc sống cá nhân của Marquez
Marc Marquez, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1993 tại Cervera, Catalunya, Tây Ban Nha, hiện đang sinh sống tại đây. Anh thường xuyên đội chiếc nón bảo hiểm Shoei có hình con kiến, từ đó được biết đến với biệt danh 'Con kiến xứ Cervera'.
Marquez chưa kết hôn và có một người em trai tên là Álex Márquez, cũng là tay đua MotoGP. Hiện tại, hai anh em đang cạnh tranh trực tiếp tại giải đua MotoGP. Ngoài việc đua xe MotoGP, Marquez còn yêu thích tập luyện với xe motocross.
Vào tháng 9 năm 2018, Marquez đã tham gia chuyến thăm Vatican cùng phái đoàn MotoGP và có cơ hội gặp gỡ Giáo hoàng Francis.
Marquez là một fan hâm mộ cuồng nhiệt của câu lạc bộ Barcelona cũng như đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.
Thống kê dữ liệu
Tổng hợp kết quả
| Năm | Giải đua | Xe | Đội đua | Số xe | Chặng | Thắng | Podium | Pole | FLap | Điểm | Hạng | Vô địch |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2008 | 125cc | KTM 125 FRR | Repsol KTM 125cc | 93 | 13 | 0 | 1 | 0 | 0 | 63 | 13th | – |
| 2009 | 125cc | KTM 125 FRR | Red Bull KTM Motorsport | 93 | 16 | 0 | 1 | 2 | 1 | 94 | 8th | – |
| 2010 | 125cc | Derbi RSA 125 | Red Bull Ajo Motorsport | 93 | 17 | 10 | 12 | 12 | 8 | 310 | 1st | 1 |
| 2011 | Moto2 | Suter MMXI | Team CatalunyaCaixa Repsol | 93 | 15 | 7 | 11 | 7 | 2 | 251 | 2nd | – |
| 2012 | Moto2 | Suter MMXII | Team CatalunyaCaixa Repsol | 93 | 17 | 9 | 14 | 7 | 5 | 328 | 1st | 1 |
| 2013 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 18 | 6 | 16 | 9 | 11 | 334 | 1st | 1 |
| 2014 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 18 | 13 | 14 | 13 | 12 | 362 | 1st | 1 |
| 2015 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 18 | 5 | 9 | 8 | 7 | 242 | 3rd | – |
| 2016 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 18 | 5 | 12 | 7 | 4 | 298 | 1st | 1 |
| 2017 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 18 | 6 | 12 | 8 | 3 | 298 | 1st | 1 |
| 2018 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 18 | 9 | 14 | 7 | 7 | 321 | 1st | 1 |
| 2019 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 19 | 12 | 18 | 10 | 12 | 420 | 1st | 1 |
| 2020 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 1 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | NC | – |
| 2021 | MotoGP | Honda RC213V | Repsol Honda Team | 93 | 13 | 2 | 3 | 0 | 2 | 117* | 7th* | – |
| Tổng cộng | 219 | 84 | 137 | 90 | 75 | 3438 | 8 | |||||
Kết quả theo năm
| Năm | Giải đua | Xe | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | Hạng | Điểm |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2008 | 125cc | KTM | QAT | SPA WD |
POR 18 |
CHN 12 |
FRA Ret |
ITA 19 |
CAT 10 |
GBR 3 |
NED Ret |
GER 9 |
CZE Ret |
RSM 4 |
IND 6 |
JPN Ret |
AUS 9 |
MAL WD |
VAL | 13th | 63 | ||
| 2009 | 125cc | KTM | QAT Ret |
JPN 5 |
SPA 3 |
FRA Ret |
ITA 5 |
CAT 5 |
NED 10 |
GER 16 |
GBR 15 |
CZE 8 |
IND 6 |
RSM 4 |
POR Ret |
AUS 9 |
MAL Ret |
VAL 17 |
8th | 94 | |||
| 2010 | 125cc | Derbi | QAT 3 |
SPA Ret |
FRA 3 |
ITA 1 |
GBR 1 |
NED 1 |
CAT 1 |
GER 1 |
CZE 7 |
IND 10 |
RSM 1 |
ARA Ret |
JPN 1 |
MAL 1 |
AUS 1 |
POR 1 |
VAL 4 |
1st | 310 | ||
| 2011 | Moto2 | Suter | QAT Ret |
SPA Ret |
POR 21 |
FRA 1 |
CAT 2 |
GBR Ret |
NED 1 |
ITA 1 |
GER 1 |
CZE 2 |
IND 1 |
RSM 1 |
ARA 1 |
JPN 2 |
AUS 3 |
MAL DNS |
VAL WD |
2nd | 251 | ||
| 2012 | Moto2 | Suter | QAT 1 |
SPA 2 |
POR 1 |
FRA Ret |
CAT 3 |
GBR 3 |
NED 1 |
GER 1 |
ITA 5 |
IND 1 |
CZE 1 |
RSM 1 |
ARA 2 |
JPN 1 |
MAL Ret |
AUS 2 |
VAL 1 |
1st | 328 | ||
| 2013 | MotoGP | Honda | QAT 3 |
AME 1 |
SPA 2 |
FRA 3 |
ITA Ret |
CAT 3 |
NED 2 |
GER 1 |
USA 1 |
IND 1 |
CZE 1 |
GBR 2 |
RSM 2 |
ARA 1 |
MAL 2 |
AUS DSQ |
JPN 2 |
VAL 3 |
1st | 334 | |
| 2014 | MotoGP | Honda | QAT 1 |
AME 1 |
ARG 1 |
SPA 1 |
FRA 1 |
ITA 1 |
CAT 1 |
NED 1 |
GER 1 |
IND 1 |
CZE 4 |
GBR 1 |
RSM 15 |
ARA 13 |
JPN 2 |
AUS Ret |
MAL 1 |
VAL 1 |
1st | 362 | |
| 2015 | MotoGP | Honda | QAT 5 |
AME 1 |
ARG Ret |
SPA 2 |
FRA 4 |
ITA Ret |
CAT Ret |
NED 2 |
GER 1 |
IND 1 |
CZE 2 |
GBR Ret |
RSM 1 |
ARA Ret |
JPN 4 |
AUS 1 |
MAL Ret |
VAL 2 |
3rd | 242 | |
| 2016 | MotoGP | Honda | QAT 3 |
ARG 1 |
AME 1 |
SPA 3 |
FRA 13 |
ITA 2 |
CAT 2 |
NED 2 |
GER 1 |
AUT 5 |
CZE 3 |
GBR 4 |
RSM 4 |
ARA 1 |
JPN 1 |
AUS Ret |
MAL 11 |
VAL 2 |
1st | 298 | |
| 2017 | MotoGP | Honda | QAT 4 |
ARG Ret |
AME 1 |
SPA 2 |
FRA Ret |
ITA 6 |
CAT 2 |
NED 3 |
GER 1 |
CZE 1 |
AUT 2 |
GBR Ret |
RSM 1 |
ARA 1 |
JPN 2 |
AUS 1 |
MAL 4 |
VAL 3 |
1st | 298 | |
| 2018 | MotoGP | Honda | QAT 2 |
ARG 18 |
AME 1 |
SPA 1 |
FRA 1 |
ITA 16 |
CAT 2 |
NED 1 |
GER 1 |
CZE 3 |
AUT 2 |
GBR C |
RSM 2 |
ARA 1 |
THA 1 |
JPN 1 |
AUS Ret |
MAL 1 |
VAL Ret |
1st | 321 |
| 2019 | MotoGP | Honda | QAT 2 |
ARG 1 |
AME Ret |
SPA 1 |
FRA 1 |
ITA 2 |
CAT 1 |
NED 2 |
GER 1 |
CZE 1 |
AUT 2 |
GBR 2 |
RSM 1 |
ARA 1 |
THA 1 |
JPN 1 |
AUS 1 |
MAL 2 |
VAL 1 |
1st | 420 |
| 2020 | MotoGP | Honda | SPA Ret |
ANC DNS |
CZE |
AUT |
STY |
RSM |
EMI |
CAT |
FRA |
ARA |
TER |
EUR |
VAL |
POR |
NC | 0 | |||||
| 2021 | MotoGP | Honda | QAT |
DOH |
POR 7 |
SPA 9 |
FRA Ret |
ITA Ret |
CAT Ret |
GER 1 |
NED 7 |
STY 8 |
AUT 15 |
GBR Ret |
ARA 2 |
RSM 4 |
AME 1 |
EMI 1 |
ALR |
VAL |
6th* | 142* |
Mùa giải hiện tại
Liên kết bên ngoài
- Trang web chính thức
- Hồ sơ Marc Márquez trên trang web chính thức của MotoGP Lưu trữ ngày 13-08-2017 trên Wayback Machine
- Marc Márquez trên Facebook
Những đội đua và tay đua tham gia Giải đua xe MotoGP 2024 |
|---|
Danh sách các tay đua từng vô địch giải đua 500cc/MotoGP |
|---|
