
Thực hiện lối suy nghĩ của Holmes sẽ giúp chúng ta trở nên tỉnh táo hơn và xử lý mọi tình huống một cách cẩn thận.
Những cạm bẫy của trí não chưa được rèn luyện
Một trong những đặc điểm quan trọng của suy nghĩ theo phong cách của Holmes là sự hoài nghi và tò mò đối với thế giới.
Hầu hết các nhà tâm lý ngày nay đồng ý rằng tâm trí của chúng ta hoạt động theo 2 hệ thống cơ bản. Một hệ thống hoạt động nhanh, theo cảm giác, phản xạ, tư duy chiến đấu hoặc chạy trốn. Nó không đòi hỏi nhiều suy nghĩ ý thức hoặc nỗ lực. Hệ thống còn lại chậm hơn, suy nghĩ cân nhắc hơn, thận trọng hơn, logic hơn, nhưng đòi hỏi nhiều năng lượng hơn.
Vì tác động tinh thần của hệ thống này, chúng ta thường dành phần lớn thời gian suy nghĩ của mình trong hệ thống phản xạ. Tôi gọi nó là hệ thống Watson. Hệ thống kia được gọi là hệ thống Holmes.
Hãy tưởng hệ thống Watson như là phiên bản ngây thơ của chúng ta, hoạt động theo những thói quen suy nghĩ lười biếng. Hệ thống Holmes là bản chất thật sự của chúng ta, mà chúng ta sẽ học cách áp dụng phương pháp suy nghĩ của Holmes vào cuộc sống hàng ngày của mình và loại bỏ những thói quen suy nghĩ của hệ thống Watson.
Khi chúng ta suy nghĩ về một vấn đề, tâm trí của chúng ta thường sẵn sàng chấp nhận bất cứ điều gì. Ban đầu, chúng ta tin, sau đó chúng ta nghi ngờ và kiểm tra. Nói cách khác, bộ não của chúng ta xem thế giới như một bài kiểm tra đúng/sai, với câu trả lời mặc định là đúng. Để chuyển sang câu trả lời “sai”, đòi hỏi thời gian, năng lượng và sự thận trọng.
Nhà tâm lý Daniel Gilbert mô tả điều này như sau: Bộ não chúng ta cần phải tin vào điều gì đó để xử lý nó, ngay cả chỉ trong 1 giây. Hãy tưởng tượng tôi yêu cầu bạn nghĩ về những con voi hồng. Bạn biết rằng voi hồng không tồn tại. Nhưng khi bạn đọc câu đó, bạn phải dành 1 chút thời gian để tưởng tượng 1 con voi hồng trong đầu bạn. Để nhận ra rằng voi hồng không tồn tại, bạn phải tin trong 1 giây rằng nó thực sự tồn tại.
Nếu chúng ta bận rộn, căng thẳng, lơ đễnh hoặc tinh thần yếu đuối, chúng ta có thể tin vào một điều mà không dành thời gian để kiểm tra - khi chúng ta phải đối mặt với quá nhiều đề xuất, năng lực tinh thần của chúng ta không đủ để xử lý mọi thứ cùng một lúc. Và việc kiểm tra thường là một trong những thứ đầu tiên chúng ta bỏ đi. Khi điều đó xảy ra, chúng ta cuối cùng sẽ tự tin vào những niềm tin sai lầm, những điều mà sau này chúng ta sẽ nhớ lại là đúng trong khi thực tế chúng lại là sai.
Thực tế, chúng ta không chỉ tin vào mọi điều chúng ta nghe, ít nhất là ban đầu, mà ngay cả khi chúng ta biết rõ rằng một câu là sai trước khi chúng ta nghe nó, chúng ta vẫn có thể coi nó là đúng.
Chúng ta giả định rằng những gì một người nói là những gì người đó thực sự tin. Và chúng ta vẫn giữ nguyên giả định đó, ngay cả khi chúng ta được biết rằng điều đó không phải là sự thật.
Bí quyết của Holmes là nhìn mọi ý nghĩ, mọi trải nghiệm và mọi nhận thức như anh ta nhìn nhận một con voi màu hồng. Nói cách khác, hãy bắt đầu với một chút hoài nghi lành mạnh thay vì việc tin tưởng, điều đó là trạng thái tự nhiên của tâm trí bạn. Hãy xem mọi thứ như là phi lý, giống như một con voi màu hồng không tồn tại trong thế giới thực.
Bạn hãy tự hỏi mình câu hỏi đơn giản, Holmes sẽ nghĩ gì và làm gì trong tình huống này. Đó là những suy nghĩ bạn chưa từng nghĩ đến trước đó, được dừng lại và xem xét trước khi chúng có thể xâm nhập vào tâm trí của bạn.
Với việc luyện tập, tâm trí bạn sẽ cảm thấy việc quan sát liên tục và không bao giờ ngừng xem xét sẽ trở nên dễ dàng hơn. Điều này sẽ trở thành thói quen tự nhiên.
Để chuyển từ hệ thống Watson sang Holmes đòi hỏi sự chú ý và động lực (và phải luyện tập rất nhiều). Chú ý có nghĩa là chú tâm và chủ động quan sát thế giới. Động lực có nghĩa là chủ động dấn thân và khao khát.
Khi chúng ta làm những việc như đặt chìa khóa không đúng chỗ hoặc làm mất kính, chúng ta đổ lỗi cho hệ thống Watson: chúng ta làm tự động và không chú ý đến hành động của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta thường quên những gì chúng ta đã làm nếu chúng ta bị làm gián đoạn, và giải thích tại sao chúng ta đứng giữa bếp và tự hỏi tại sao chúng ta lại ở đó. Hệ thống Holmes giúp chúng ta tự nhớ vị trí và lý do chúng ta đã làm những gì chúng ta đã làm. Chúng ta không bị thúc đẩy hoặc chú ý liên tục. Đôi khi chúng ta thực hiện một hành động mà không chú ý để dành năng lượng cho những việc quan trọng hơn, như chỗ để chìa khóa.
Nhưng để phá vỡ kiểu tự động, chúng ta phải suy nghĩ một cách tập trung. Để suy nghĩ giống Holmes, chúng ta cần muốn suy nghĩ như anh ta.
Động lực dự đoán về kết quả học tập cao hơn, kết quả làm việc tốt hơn. Ví dụ, nếu chúng ta có động lực để học một ngôn ngữ, chúng ta sẽ thành công hơn. Khi chúng ta học cái gì mới, chúng ta học tốt hơn nếu chúng ta có động lực cao. Thậm chí trí nhớ cũng biết chúng ta có động lực hay không: chúng ta nhớ tốt hơn nếu chúng ta có động lực khi muốn nhớ. Điều này được gọi là mã hoá có động lực.
Và cuối cùng là luyện tập, luyện tập, luyện tập. Các chuyên gia trong mọi lĩnh vực, từ cờ vua đến trinh thám, đều có trí nhớ xuất sắc trong lĩnh vực của họ. Kiến thức về tội phạm của Holmes vô cùng rộng lớn. Nhà tâm lý Anders Ericsson đã lập luận rằng các chuyên gia nhìn thế giới từ góc độ khác biệt trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Họ có thể nhìn thấy những mẫu hình mà đôi mắt không được huấn luyện không thể nhìn thấy; họ nhận biết chi tiết như một phần của toàn bộ và biết ngay điều quan trọng và điều không quan trọng, không cần thiết.
Bạn có thể chắc chắn rằng trong thế giới tiểu thuyết, Holmes được sinh ra với hệ thống Watson. Nhưng anh không sống theo cách đó. Anh đã huấn luyện hệ thống Watson để hoạt động theo các nguyên tắc của hệ thống Holmes. Anh đã huấn luyện hệ thống Watson từ việc đánh giá nhanh chóng theo cách tiếp cận suy nghĩ. Và chỉ mất vài giây cho Holmes để đưa ra những nhận xét ban đầu về tính cách của Watson. Đó là lý do Holmes gọi đó là trực giác. Trực giác chính xác, trực giác mà Holmes sở hữu buộc phải dựa vào luyện tập hàng trăm, hàng ngàn giờ. Holmes không sinh ra để trở thành thám tử. Anh đã luyện tập tâm trí tiếp cận thế giới, theo thời gian đã hoàn thiện nghệ thuật của mình đến mức chúng ta thấy.
“Lúc đó một loạt suy nghĩ, suy đoán đã lướt qua tâm trí tôi, dẫn tôi đến kết luận đó. Tuy nhiên, vẫn còn những hành trình. Phương pháp suy luận phối hợp của tôi như sau: người này có dáng vẻ giống bác sĩ, nhưng lại có vẻ như quân nhân, vậy nên chắc chắn là một bác sĩ quân y. Anh ta vừa trở về từ vùng nhiệt đới vì da anh ấy rất đậm mà không phải là da tự nhiên vì 2 cổ tay anh ấy rất trắng. Anh ta đã phải chịu đựng nhiều ngày khổ cực, đau ốm, điều đó thể hiện rõ trên khuôn mặt. Anh ta đã bị thương ở cánh tay vì cánh tay của anh ấy cử động hơi cụt. Một bác sĩ quân y người Anh, sống ở vùng nhiệt đới nào mà lại bị thương ở cánh tay và phải sống khổ cực? Đương nhiên là ở Afghanistan. Tất cả chuỗi suy nghĩ này diễn ra trong chưa đầy 1 giây đồng hồ.”
Ảnh: The Guardian
* Tâm trí của chúng ta không thích gì hơn là nhanh chóng rơi vào những kết luận
Watson nhanh chóng rơi vào bẫy của hiệu ứng ánh sáng lấp lánh (nếu một yếu tố - ở đây là ngoại hình - tích cực, bạn có thể coi những yếu tố khác cũng là tích cực, và mọi thứ không phù hợp sẽ dễ dàng, và trong tiềm thức sẽ hợp lý). Watson dễ bị thành kiến phù hợp cổ điển: mọi thứ tiêu cực về Mary được xem là do những yếu tố ngoại cảnh - căng thẳng, xui xẻo, bất cứ điều gì.
Hãy tưởng tượng bạn cần một người vào nhóm. Để tôi kể cho bạn một chút về Amy. Đầu tiên, cô ấy thông minh và chăm chỉ.
Dừng lại ở đây. Có thể bạn đã nghĩ, OK, cô ấy sẽ là một người tuyệt vời để làm việc cùng, thông minh và chăm chỉ là hai điều tôi thích ở một đối tác. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu tôi tiếp tục với “đố kỵ và ngoan cố.” Không còn tốt nữa, đúng không? Nhưng thành kiến ban đầu sẽ đặc biệt mạnh. Bạn có thể giảm bớt những đặc điểm sau và coi hai đặc điểm đầu quan trọng hơn - tất cả là do trực giác ban đầu của bạn. Đảo ngược cả hai, điều ngược lại xảy ra, bất kỳ sự thông minh và chăm chỉ nào cũng không thể cứu một người mà ban đầu bạn coi là đố kỵ và ngoan cố. Đó là ấn tượng ban đầu sẽ kéo dài, Watson bị sự quyến rũ của Mary (tóc, mắt, váy) tiếp tục làm sai lệch sự đánh giá của anh về cô và nhận thức của anh về những gì cô ấy làm và không làm. Chúng ta thích sự nhất quán và không thích sai lệch. Và do đó, như ấn tượng ban đầu của chúng ta có xu hướng có ảnh hưởng lớn, bất kể những bằng chứng có thể theo sau. Sau khi Mary về, Watson nói “Thật là một phụ nữ quyến rũ.” Holmes chỉ đáp lại đơn giản “Vậy sao, tôi không để ý.” và sau đó tuân theo sự nhắc nhở của anh phải cẩn thận không để những phẩm chất cá nhân ảnh hưởng đến sự đánh giá của bạn. Liệu theo nghĩa đen, có phải Holmes không chú ý? Holmes đã quan sát tất cả những chi tiết ngoại hình như Watson, nhưng Holmes không đưa ra đánh giá như Watson: cô ấy là một phụ nữ rất quyến rũ. Trong câu đó, Watson đã đi từ quan sát khách quan đến ý kiến chủ quan. Đó chính xác là những gì Holmes cảnh báo. Anh biết nếu anh để cho những đặc điểm ngoại hình phụ, thứ yếu ảnh hưởng, anh sẽ gặp nguy cơ đánh mất tính khách quan trong sự quan sát của anh. Anh biết nếu anh nhanh chóng đưa ra một sự đánh giá, anh sẽ bỏ qua nhiều bằng chứng chống lại nó và chú ý nhiều hơn đến những yếu tố ủng hộ nó. Holmes không phải một người máy như Watson gọi anh khi Holmes không chia sẻ với Watson sự say mê với Mary. Holmes sẽ có một ngày gọi một phụ nữ là đáng chú ý - Irene Adler. Nhưng chỉ sau khi cô thắng anh trong một trận chiến trí tuệ, cho thấy cô là một đối thủ ghê gớm, nam hoặc nữ, hơn những người anh đã gặp.
* Sức mạnh của những điều không cốt yếu / ngẫu nhiên
Trong trường hợp của Mary Morstan hoặc Joe và Jane Stranger, những yếu tố ngoại hình đã kích hoạt thành kiến của chúng ta. Nhưng đôi khi, những thành kiến của chúng ta bị kích hoạt bởi những yếu tố hoàn toàn không liên quan đến những gì chúng ta đang làm. Chúng có thể hoàn toàn nằm ngoài tầm nhìn của chúng ta và có thể dễ dàng ảnh hưởng sâu sắc đến sự đánh giá của chúng ta.
Trong truyện “Phiêu lưu của Coer Beeches”, Watson và Holmes đi tàu ra nước ngoài. Khi họ đến Aldershot, Watson nhìn qua cửa sổ những ngôi nhà. “Chúng không đẹp và mát mẻ chút nào” Watson nói. Nhưng Holmes “Tôi phải nhìn mọi thứ liên quan đến lĩnh vực đặc biệt của tôi. Anh nhìn những ngôi nhà và bị ấn tượng bởi vẻ đẹp của chúng. Tôi nhìn và duy nhất nghĩ đến là sự cô lập của chúng và nơi tội phạm có thể lẩn trốn.”
Holmes và Watson thật sự cùng nhìn những ngôi nhà, nhưng điều họ nhìn là khác nhau. Sự an toàn của một ngôi nhà là vấn đề quan trọng rất nhiều. Bạn có muốn một mình gõ cửa một ngôi nhà nếu có khả năng những người sống sau cánh cửa đó là tội phạm.
* Sức mạnh của sự chú ý, quan sát
Lần đầu gặp nhau, Watson tự hỏi làm sao Holmes biết “Anh từng ở Afghanistan”, Watson nghĩ đơn giản rằng không thể nào một người có thể nói ra điều đó chỉ từ việc…nhìn.
Sự quan sát của Holmes là quá trình thụ động, để những đối tượng nào đó vào tầm nhìn của bạn. Bạn biết quan sát cái gì và quan sát như thế nào, và dựa vào đó hướng sự chú ý của bạn: bạn tập trung vào những chi tiết nào? Bạn bỏ qua những chi tiết nào. Mọi thứ chúng ta chọn để chú ý có tiềm năng trở thành một cung cấp, trang bị trong tương lai. Do đó, chúng ta phải lựa chọn một cách thông minh. Lựa chọn thông minh nghĩa là có sự chọn lọc. Nó không chỉ là nhìn mà còn nhìn đúng, nhìn có suy nghĩ. Nó có nghĩa là nhìn với sự hiểu biết rằng những gì bạn đang chú ý và bạn chú ý như thế nào, sẽ hình thành nền tảng, cơ sở cho bất kỳ suy luận nào trong tương lai bạn có thể đưa ra. Nó có nghĩa là nhìn toàn bộ bức tranh, chú ý đến những chi tiết quan trọng và hiểu làm thế nào để đặt những chi tiết đó trong một bối cảnh rộng hơn.
Nhiệt đới, bệnh, bị thương: kết hợp chúng với nhau như một phần của một bức tranh lớn hơn. Afghanistan. Mỗi sự quan sát được đặt trong một bối cảnh không chỉ là một phần đứng một mình mà là một phần của một tổng thể. Holmes không chỉ quan sát. Anh đặt những câu hỏi phù hợp về những quan sát đó, những câu hỏi sẽ giúp anh kết hợp tất cả lại với nhau, suy ra được đại dương từ những giọt nước.
Làm thế nào chúng ta học được cách tự mình đưa ra kết luận như vậy? Tất cả đến từ một từ duy nhất: chú ý.
Khi Holmes và Watson lần đầu gặp nhau, Holmes ngay lập tức đã suy luận chính xác lịch sử của Watson. Nhưng còn những ấn tượng của Watson về Holmes thì sao? Khi Watson đến phòng thí nghiệm, nơi có Holmes. Ấn tượng đầu tiên của Watson là ngạc nhiên trước sức mạnh của Holmes. Ngạc nhiên thứ hai là sở thích của Holmes với thí nghiệm hoá học. Hai ấn tượng đó là những ấn tượng hơn là những sự quan sát. Tại sao Holmes không nên mạnh mẽ? Tại sao Holmes không nên hứng thú với hoá học?
Tại sao thiếu ý thức, những đánh giá rất chủ quan và hạn hẹp? Watson đã trả lời cho chúng ta khi anh liệt kê những khuyết điểm của mình với Holmes sau tất cả “tôi cực kỳ lười.” Watson không đơn độc. Khuyết điểm đó hành hạ tất cả chúng ta, ít nhất là khi nói về sự chú ý. Tại sao quá khó để chú ý? Đó không nhất thiết là lỗi của chúng ta. Nhà thần kinh học Marcus Raichle sau vài thập kỷ nghiên cứu bộ não, cho rằng tâm trí chúng ta thích đi lang thang. Đó là trạng thái nghỉ ngơi. Mỗi thông tin mới đi vào, mỗi yêu cầu mới chúng ta đặt ra đối với sự chú ý của mình giống như một con thú săn mồi. Bộ não nói “có lẽ tôi nên chú ý đến điều đó.” Kết quả? Chúng ta chú ý đến mọi thứ và không có thứ gì là quan trọng, tất nhiên.
Hãy để ý cách Watson chú ý Holmes lần đầu tiên gặp Holmes. Không phải Watson không nhìn thấy bất kỳ thứ gì. Mà Watson chú ý đến “vô số thứ”. Những cái bàn rộng thấp, những cái đèn… Tất cả những chi tiết đó, nhưng không có chi tiết nào tạo ra một sự khác biệt cho nhiệm vụ trước mắt – lựa chọn bạn cùng phòng tương lai.
Sự chú ý là một nguồn lực có hạn. Chú ý vào một điều này đồng nghĩa phải bỏ qua điều khác. Chúng ta không thể phân chia sự chú ý của mình cho nhiều việc cùng một lúc và kỳ vọng nó hoạt động hiệu quả như khi chúng ta chỉ tập trung vào một nhiệm vụ. Chúng ta không thể nhận thức được điều gì nếu chúng ta không chú ý đến nó.
Nếu bạn biết cách lựa chọn đúng ngay từ đầu để hoàn thành chính xác những gì bạn muốn, bạn có thể giảm thiểu những nguy hại của hệ thống Watson. Quan trọng là huấn luyện khả năng lựa chọn đúng cùng với lòng khao khát và động lực để vượt qua quá trình suy nghĩ của bạn.
Cải thiện khả năng chú ý của chúng ta
Chúng ta không chú ý mọi thứ vì chú ý mọi thứ, từng âm thanh, mùi, hình ảnh, từng cảm giác sẽ làm chúng ta mất trí (trong thực tế, thiếu khả năng lựa chọn là dấu hiệu của nhiều bệnh tâm thần)
Chúng ta cần học cách chỉ dẫn bộ não của mình về những gì cần chú ý và làm thế nào để chú ý, thay vì để bộ não tự quyết định thay cho chúng ta. Holmes chỉ ra 4 yếu tố cho phép chúng ta làm điều đó.
1/ Lựa chọn
Chúng ta thường hướng sự chú ý của mình vào những cảm xúc của sự ngẫu nhiên: chúng ta quên tất cả những lần chúng ta sai và không có gì xảy ra, chỉ nhớ những sự trùng hợp – vì đó là những điều chúng ta chú ý trước tiên. Bà bầu chú ý những bà bầu khác ở mọi nơi, con người chú ý những giấc mơ dường như sau đó trở thành sự thật (và quên tất cả những giấc mơ khác); nhìn con số 11 ở mọi nơi sau sự kiện 11/9. Không có gì trong môi trường thực sự thay đổi, không đột nhiên có nhiều bà bầu hơn.
Hãy chọn cách bạn chú ý. Ban đầu điều này có vẻ ngược đời: chúng ta không cố gắng chú ý nhiều hơn, mà ít hơn sao? Nhưng có sự khác biệt quan trọng giữa chất lượng và số lượng. Chúng ta muốn học cách chú ý tốt hơn, trở thành những người chú ý, quan sát giỏi, nhưng chúng ta không thể đạt được điều này nếu chúng ta chú ý đến mọi thứ một cách không thận trọng, không suy nghĩ. Dù tình huống là gì, trả lời câu hỏi, một cách cụ thể, bạn muốn hoàn thành điều gì sẽ đặt bạn vào cách biết làm thế nào để tối đa hoá nguồn lực chú ý có giới hạn của bạn. Nó sẽ hướng tâm trí bạn đến những mục tiêu và những suy nghĩ thực sự quan trọng.
Holmes định nghĩa những mục tiêu của mình và những yếu tố cần thiết để đạt được chúng. Anh biết điều gì đáng chú ý. Holmes không lãng phí thời gian vào bất kỳ điều gì khác. Anh phân phối sự chú ý của mình một cách chiến lược.
Vì vậy, chúng ta cần xác định mục tiêu của mình để biết những gì chúng ta đang tìm kiếm và tìm nó ở đâu.
Hệ thống Watson có thể mất nhiều năm để trở nên giống hệ thống Holmes. Bạn có thể đặt ra mục tiêu để giúp bạn lọc thông tin, nhưng hãy cẩn thận để không biến những mục tiêu đó thành rào cản. Mục tiêu, ưu tiên, và câu trả lời cho câu hỏi “Tôi muốn hoàn thành điều gì” phải linh hoạt đủ để thích nghi với những thay đổi.
2/ Cam kết
Tâm trí cần năng động, cam kết vào những gì nó đang làm. Động lực là yếu tố quan trọng. Thiếu động lực dẫn đến hiệu suất giảm.
Khi chúng ta cam kết vào những gì chúng ta đang làm, chúng ta sẽ kiên nhẫn hơn trước những thách thức, có khả năng vượt qua chúng.
Tri giác có thể được chia thành 2 loại: thụ động và chủ động.
Hệ thống Watson là tính chủ động. Hệ thống Holmes là tính thụ động. Là người tri giác thụ động, chúng ta chỉ quan sát. Ý tôi là chúng ta không làm bất cứ điều gì khác. Nói cách khác, chúng ta không thể thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng một lúc. Holmes tập trung toàn bộ sự chú ý vào mục tiêu quan sát của mình (John Hector). Anh ta nghe theo thói quen, với đôi mắt và ngón tay. Từ 'thụ động' có thể gây hiểu lầm. Thái độ thụ động ở đây là cách anh ấy đối mặt với phần còn lại của thế giới. Anh ta không bị phân tâm bởi bất kỳ nhiệm vụ nào khác.
Người tri giác chủ động theo nghĩa đen là làm nhiều việc cùng một lúc. Không bỏ qua bất kỳ điều gì. Watson lo lắng về chuông cửa, lo về tờ báo, lo về bữa trưa sắp được phục vụ, lo lắng về cảm xúc của Holmes, tất cả cùng một lúc. Đó là một trạng thái dường như bạn chủ động và hiệu quả, nhưng thực tế, bạn không làm gì với tiềm năng tuyệt vời nhất, bạn đang phân tán nguồn lực chú ý của mình.
Khi chúng ta muốn dấn thân, tin tôi, chúng ta có thể.
* Sức mạnh của trí tưởng tượng
Tại sao nhiều người không nhận ra sự thay đổi? Họ quên rằng giữa việc quan sát và suy luận có một khoảnh khắc tinh thần quan trọng. Hệ thống Watson của họ – hành động, hành động, hành động, đánh giá thấp nhu cầu quan trọng đối lập: khoảnh khắc yên bình để suy ngẫm.
Điều làm nên Holmes là khả năng sẵn lòng dấn thân vào những điều chưa biết, theo dõi những giả thiết, thưởng thức những suy luận dựa trên suy đoán, đó là khả năng sở hữu suy nghĩ sáng tạo và tưởng tượng. Xã hội ít đánh giá cao những thứ không đo được như tưởng tượng và tập trung vào sức mạnh của trí tuệ. Chúng ta chỉ trọng trách cao sự sáng tạo ở mức bề mặt, nhưng sâu thẳm trong lòng chúng ta, tưởng tượng có thể gây ra sự lo lắng. Chúng ta không chấp nhận sự không chắc chắn. Chúng ta cố gắng giảm thiểu bất kỳ điều không chắc chắn nào, thường bằng cách đưa ra những sự lựa chọn quen thuộc để bảo vệ trạng thái hiện tại. Sự sáng tạo, ngược lại, đòi hỏi sự mới mẻ. Tưởng tượng bao gồm tất cả các khả năng mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng chúng ta có thể giữ lại những định kiến vô thức chống lại những ý tưởng sáng tạo.
Holmes có một yếu tố mà máy tính thiếu: tưởng tượng.
* Tầm quan trọng của khoảng cách
Một trong những cách quan trọng nhất để khuyến khích suy nghĩ tưởng tượng là thông qua khoảng cách.
Lùi lại một bước trong tư duy là điều khó khăn. Điều này dường như ngược lại với tự nhiên khi bạn đang cố gắng giải quyết một vấn đề. Nhưng thực tế, điều này không đáng chú ý với cả Holmes lẫn những người suy nghĩ sâu sắc. Điều này đáng chú ý với Watson.
Nhà tâm lý Yaacov Trope đề xuất rằng tạo ra khoảng cách tâm lý có thể là một phương pháp quan trọng để cải thiện quá trình tư duy và ra quyết định. Điều này có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: thời gian, cả khoảng cách thời gian (bao gồm cả tương lai và quá khứ); không gian, cả khoảng cách không gian (liên quan đến việc bạn ở gần hay xa về mặt vật lý đối với một điều gì đó); xã hội, cả khoảng cách giữa con người; và giả thiết, cả khoảng cách thực tế (như mọi thứ có thể diễn ra như thế nào).
Dù hình thức nào đi nữa, tất cả các loại khoảng cách đều có điểm chung: chúng đòi hỏi bạn vượt qua khoảnh khắc tức thời trong tâm trí của mình. Tất cả chúng đều yêu cầu bạn lùi lại một bước.
Trope lập luận rằng việc tạo ra khoảng cách giữa chúng ta và sự vấn đề sẽ làm cho quan điểm và diễn giải của chúng ta trở nên trừu tượng và khái quát hơn, giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề từ một góc độ rộng lớn hơn.
Ngược lại, khi chúng ta tiến lại gần, suy nghĩ của chúng ta trở nên cụ thể và thực tế hơn, và chúng ta duy trì quan điểm hẹp hơn và giới hạn hơn.
Khoảng cách tâm lý là yếu tố quan trọng của hệ thống Holmes. Nó thúc đẩy chúng ta vào việc suy ngẫm một cách yên bình. Khoảng cách tâm lý đã được chứng minh là cải thiện khả năng nhận thức, từ việc xử lý vấn đề thực tế đến khả năng kiểm soát bản thân. Trẻ em sử dụng các kỹ thuật tạo khoảng cách tâm lý (ví dụ: tưởng tượng kẹo bông như là những đám mây) có khả năng trì hoãn sự hài lòng và đợi chờ những phần thưởng lớn hơn trong tương lai.
* Holmes tạo khoảng cách bằng cách thực hiện những hoạt động không liên quan
Khi hút xì gà, Holmes đặt cái tẩu thuốc giữa mình và vấn đề. Anh để trí tưởng tượng của mình có thời gian làm việc mà không bị làm phiền.
Cái tẩu thuốc là một phương tiện để đạt được một mục đích, nhưng nó cũng là một phương tiện quan trọng. Quan trọng ở đây là chúng ta đang làm việc với một đối tượng và một hoạt động thực sự. Một sự thay đổi trong hoạt động, đến một việc có vẻ không liên quan đến vấn đề, là một trong những yếu tố giúp tạo ra khoảng cách cần thiết cho trí tưởng tượng. Điều này thực sự là một chiêu mà Holmes thường áp dụng và có hiệu quả. Anh hút xì gà, chơi violin, hoặc nghe nhạc, là những cách mà Holmes thích sử dụng để tạo khoảng cách.
Những hoạt động đó định hình lại ý nghĩ của bạn theo một hướng khác. Chúng cần phải không liên quan đến những gì bạn đang cố gắng hoàn thành, không làm tốn quá nhiều nỗ lực, và cần phải là một điều bạn có thể dấn thân vào ở một mức độ nào đó. Khi tạo ra khoảng cách, chúng ta đã chuyển vấn đề mà chúng ta đang cố giải quyết từ ý thức sang vô thức. Trong khi chúng ta có thể nghĩ là chúng ta đang làm một việc gì đó khác, bộ não thực sự không ngừng làm việc với vấn đề ban đầu.
Khi tạo ra khoảng cách, chúng ta đã chuyển vấn đề mà chúng ta đang cố giải quyết từ ý thức sang vô thức. Trong khi chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta đang làm một việc gì đó khác, bộ não thực sự không ngừng làm việc với vấn đề ban đầu.
Watson không thể tạo khoảng cách giữa bản thân và vụ án vì thiếu một hoạt động phù hợp để dấn thân. Trong một số trường hợp, anh cố gắng đọc sách, nhưng mục tiêu quá khó khăn. Nhưng đối với Holmes, việc đọc sách thực sự giúp anh tạo ra khoảng cách phù hợp.
Một hoạt động khác là đi bộ, đặc biệt trong thiên nhiên. Sau khi đi bộ, con người trở nên sáng tạo hơn, kiên nhẫn hơn, và có thể tìm ra giải pháp.
Ngay cả khi bạn không đạt được kết luận nào trong khi tạo khoảng cách với vấn đề, bạn có thể quay lại với nó với năng lượng và sự sẵn lòng nhiều hơn.
Hiệu ứng Zeigarnick: tâm trí muốn kết thúc, muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, thúc đẩy chúng ta làm việc hăng hơn, tốt hơn.
* Nếu bạn sợ sự sáng tạo, bạn sẽ không bao giờ giống Holmes.
* Nghệ thuật suy luận
Phân biệt giữa chi tiết quan trọng và không quan trọng
Ví dụ, khi nói về cơ hội và xác suất, chúng ta thường trở thành những người lý luận ngây thơ. (đọc sách thêm)
* Không ngừng học hỏi
Thách thức bản thân và xem xét thói quen liên tục.
Dù chúng ta cảm thấy thành thạo trong lĩnh vực nào đi nữa, chúng ta luôn cần giữ tinh thần và động lực trong mọi việc chúng ta làm.
Tuy nhiên, khi chúng ta tập luyện, khi mọi thứ trở nên tự nhiên và thường xuyên hơn và trở thành thói quen thứ hai, chúng ta chuyển sang hệ thống Holmes.
Holmes phải không ngừng đặt ra thách thức cho bản thân để tránh rơi vào tình huống tương tự. Ngay cả khi những thói quen quan sát của anh đã trở nên nhạy bén, chúng có thể dẫn anh đi lệch hướng nếu anh không liên tục áp dụng chúng. Nếu chúng ta không thách thức những thói quen tư duy của mình, chúng ta có thể rơi vào hệ thống Holmes mà chúng ta đã tập trung vào trước đây.
Khi chúng ta cảm thấy đã đạt được điều gì đó quan trọng, hệ thống Holmes của chúng ta thích nghỉ ngơi nhất. Vậy tại sao cần phải đi xa hơn nếu bạn đã hoàn thành mục tiêu?
Sự học hỏi của con người chủ yếu được kích thích bởi RPE (lỗi dự đoán phần thưởng). Khi một hành động được thưởng nhiều hơn kỳ vọng, ví dụ, tôi quẹo trái mà không va vào tường khi tôi học lái xe. RPE gây ra việc giải phóng dopamine trong não. Sự giải phóng đó xảy ra thường xuyên khi chúng ta bắt đầu học cái mới. Nhưng tôi không còn ngạc nhiên khi tôi lái xe thành thạo. Tôi không còn ngạc nhiên khi tôi không mắc lỗi khi gõ máy. Tôi không còn ngạc nhiên khi tôi có thể nói rằng Watson đến từ Afghanistan. Tôi biết rằng tôi sẽ làm được điều đó trước khi thực sự thực hiện. Vì vậy, không có RPE. Không có dopamine. Không có niềm vui. Không có nhu cầu học thêm.
Holmes không chỉ tham gia các vụ án để giảm tội phạm mà còn để thách thức các khía cạnh của trí óc của anh. Để nuôi dưỡng niềm đam mê và tiến bộ. Anh không bao giờ từ chối kiến thức mới, dù có thể là đáng sợ hoặc phức tạp.
Nguồn: Blog Chiếc nón
