
Màu tóc của mỗi người phụ thuộc vào lượng eumelanin và pheomelanin trong sợi tóc. Khi các hắc tố này hoàn toàn biến mất, tóc trở nên nhạt màu, như ở những người mắc bệnh bạch tạng.
Nguồn gốc của màu tóc tự nhiên ở con người
Melanin được sản xuất bởi các tế bào melanocytes nằm trong nang tóc. Những tế bào này chuyển đổi các amino acid thành nhiều loại sắc tố melanin khác nhau, tạo nên bảng màu tóc phong phú cho con người.
- Eumelanin là sắc tố màu nâu - đen, chủ yếu quyết định màu tối của tóc. Trong tóc nâu và đen, eumelanin thường xuất hiện trong các hạt dễ nhận diện.
- Pheomelanin là sắc tố màu vàng - đỏ, hiện diện nhiều trong tóc vàng ánh, tóc vàng và tóc đỏ. Sắc tố này nhỏ hơn và cấu trúc mịn hơn so với eumelanin, đồng thời khuếch tán rộng hơn.
Tỷ lệ pha trộn của eumelanin và pheomelanin tạo nên các biến thể màu sắc của tóc ở con người. Màu tóc như nâu đen, đỏ nâu hoặc vàng đỏ là kết quả của sự pha trộn khác nhau của hai loại sắc tố này. Màu tóc tự nhiên có thể thay đổi khi tóc được tẩy trắng hoặc nhuộm. Sự sáng hay mờ của màu tóc không chỉ phụ thuộc vào sắc tố mà còn vào cấu trúc của lớp biểu bì. Nếu các lớp tế bào vảy đứng nghiêng đều, tóc có thể trông nhạt màu; ngược lại, nếu chúng xếp chồng lên nhau, màu tóc sẽ sáng hơn. Màu tóc, dù là mịn màng hay gợn sóng, dày hay mỏng, và sự xuất hiện của sợi tóc bạc đầu tiên chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố di truyền.
Màu tóc





| trắng | vàng hoe | Vàng nâu | đỏ | nâu đỏ, henna | nâu nhạt | nâu | nâu sẫm | đen |
Phân bố màu tóc trong cộng đồng nhân loại

Hơn nửa số người có tóc màu đen, trong đó khoảng ba phần tư là tóc đen thẫm. Tóc đen có ưu thế di truyền và vì thế xuất hiện phổ biến trong các cộng đồng nhân loại. Tuy nhiên, tóc đen không hoàn toàn giống nhau: ví dụ, tóc của người Ấn-Âu thường có sắc nâu đậm, trong khi người châu Phi, Đông Á và Ấn Độ chủ yếu có tóc đen sâu. Ở châu Âu, nơi tóc sáng màu hơn, tóc đen là phổ biến nhất ở các hậu duệ của người Celt tại Ireland, Anh và Brittany.
Tóc người châu Âu chủ yếu có tông màu nâu, từ nâu đậm vùng Địa Trung Hải đến các tông màu sáng hơn về phía bắc, nơi tóc nâu dần nhường chỗ cho tóc vàng. Màu nâu cũng phổ biến trong cộng đồng bản địa Úc, New Guinea và Melanesia.
Mái tóc vàng chỉ chiếm khoảng 2% dân số toàn cầu khi trưởng thành. Ban đầu, tóc vàng phổ biến nhất ở miền Bắc và Đông Âu (và sau đó, khi người châu Âu mở rộng, tóc vàng xuất hiện trên toàn thế giới). Tại Tây Nam và Trung Á cũng như Tây Bắc Phi, tóc vàng chủ yếu xuất hiện cục bộ. Điều này có thể do sự tiếp xúc với người Bắc Âu kể từ các cuộc di cư. Tóc vàng cũng thấy ở thổ dân miền Trung và Tây Úc, nhưng chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ. Sự xuất hiện của tóc vàng cũng được ghi nhận ở New Guinea và Melanesia. Có nhiều truyền thuyết về người tóc đỏ ở Mỹ trước Columbus, và thực tế tóc sáng màu có thể được thấy ở người Mandan ở Missouri và hậu duệ của Chachapoya ở Peru. Nguyên nhân có thể là đột biến như ở người Melanesia hoặc ảnh hưởng từ châu Âu trước thời kỳ thuộc địa, mặc dù lý do sau thường bị khoa học bác bỏ.
Màu tóc đỏ cũng có sự phân bố tương tự, chỉ chiếm khoảng 1-2% dân số toàn cầu, làm cho nó là màu tóc hiếm nhất. Tỷ lệ cao nhất của tóc đỏ được tìm thấy ở Scotland, Wales và Ireland, với khoảng 13% dân số sở hữu mái tóc đỏ. Như bạn có thể thấy trên bản đồ, sự xuất hiện cục bộ của tóc đỏ thường được tìm thấy ở những nơi mà tóc vàng cũng ít khi xuất hiện.
Mái tóc bạc của con người
Tóc bạc của con người thực ra không phải là một màu sắc thực sự. Hiệu ứng thị giác khiến tóc trông bạc là do sự pha trộn của các hạt sắc tố và phi sắc tố trong từng sợi tóc. Tóc không chuyển ngay lập tức thành màu bạc mà là từ từ qua từng giai đoạn. Một nguyên nhân khác gây ra tóc bạc (Canities) là cơ thể không sản xuất đủ lượng amino acid tyrosine, cần thiết cho việc sản xuất melanin, do lão hóa hoặc một số bệnh lý nhất định. Do đó, sự giảm hoạt động của enzyme catalase do tích tụ hydrogen peroxide trong sợi tóc có thể làm hạn chế khả năng sửa chữa tổn thương oxy hóa ở nơi hoạt động của enzyme tyrosinase. Thiếu melanin dẫn đến giảm sắc tố và được thay thế bởi sự xuất hiện của bọt khí trong sợi tóc, khiến tóc trông như màu trắng.
Một lý do khác khiến tóc trông bạc là do sự suy giảm của các tế bào gốc bên trong nang tóc. Các tế bào gốc melanocyte, tích tụ DNA theo tuổi tác, phân hóa thành các tế bào melanocytes trưởng thành hoặc bắt đầu quá trình chết tế bào theo lập trình (apoptosis). Trung bình, mỗi sợi tóc tồn tại từ ba đến bảy năm trước khi rụng và được thay thế bằng sợi tóc mới. Theo thời gian, tỷ lệ tóc bạc ngày càng tăng. Tóc ở thái dương có tuổi thọ ngắn hơn, giống như râu, nên thường chuyển màu bạc trước tiên.
Nhuộm tóc trong văn hóa
Việc nhuộm tóc đã được thực hiện từ thời kỳ Ai Cập cổ đại. Thay đổi màu tóc tự nhiên từng bị chỉ trích đạo đức, nhưng điều này đã thay đổi với sự phát triển của thương mại hóa thuốc nhuộm tóc. Ngành công nghiệp mỹ phẩm đã tiến bộ sau khi phát minh ra các phương pháp nhuộm tóc tiên tiến vào khoảng năm 1860, làm cho tóc nhuộm trông tự nhiên hơn và tạo ra hình ảnh những ngôi sao tóc vàng nổi bật trên sân khấu Hollywood. Những sản phẩm truyền thông nổi tiếng về nhuộm tóc bao gồm bộ phim Vertigo của Alfred Hitchcock (1958) và tiểu thuyết Les grandes của Jean Echenoz (1995).
Các chủ đề liên quan
- Bên cạnh bạch tạng và Piebaldism, động vật còn có thể mắc chứng nhiễm melanin, dẫn đến màu đen của lông, da hoặc vảy.
- Melanocyte (tế bào tạo sắc tố trong da)
- „Oma-Grau', màu tóc tổng hợp
- Cô gái với tóc vàng sáng
- Tóc đỏ rực
Văn học
- H. Zahn: Das Haar aus der Sicht des Chemikers. Trong: Chemie in unserer Zeit. Tập 23, Số 5, 1989, ISSN 0009-2851, Trang 141.
- Ralf Junkerjürgen: Haarfarben: eine Kulturgeschichte in Europa seit der Antike. Böhlau, Köln và các nơi khác. 2009, ISBN 978-3-412-20392-4.
