Mèo hoang mạc, hay được biết đến với tên gọi khác là mèo núi Trung Hoa, mèo rừng Trung Hoa hoặc mèo xá lị, là một loài mèo đặc hữu của miền tây Trung Quốc. Nó được IUCN xem là loài dễ thương tổn từ năm 2002, do số lượng cá thể sinh sản ít hơn 10.000 con.
Vào tháng 11 năm 2019, mèo hoang mạc lại được ghi nhận xuất hiện tại dãy núi Qilian. Đây là lần thứ hai trong năm 2019 mà nhà nghiên cứu ghi lại được hình ảnh của loài mèo này. Nhìn vào hình ảnh của mèo hoang mạc, có người cho rằng chúng đáng yêu, trong khi có người lại cho rằng chúng là loài vật lạnh lùng. Một số người cho rằng chúng rất giống với mèo nhà, trong khi những người khác nói rằng chúng có nét tương đồng với mèo linh miêu.

'Mèo' ở đây không chỉ đề cập đến mèo nhà, mà còn là phần của phân họ mèo. Phân họ mèo được chia thành phân họ báo (bao gồm sư tử, hổ, báo, v.v.) và phân họ mèo. Phân họ mèo được chia thành 12 chi, trong đó mèo hoang mạc và mèo nhà thuộc cùng một chi. Mèo hoang mạc có cân nặng từ 4,1-9 kg, là loài mèo 'lớn' thứ hai sau mèo ri (3-13 kg). Các thành viên khác của chi này bao gồm hai loài mèo nhỏ hơn là mèo sa mạc (1,4-3,4 kg) và mèo chân đen (1,1-2,4 kg).
Trong chi mèo, mèo hoang mạc và mèo nhà là những người anh em thân thiết nhất. Mèo nhà đã được thuần hóa từ mèo rừng, đặc biệt là từ mèo rừng Châu Phi, không phải từ mèo rừng Châu Á có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng mèo nhà, mèo hoang và mèo hoang mạc có quan hệ họ hàng mật thiết với nhau, do đó ranh giới giữa chúng rất khó xác định và chúng có thể giao phối tự do với nhau mà không cần sự cách ly sinh sản. Để mô tả chính xác mối quan hệ giữa chúng, các nhà khoa học đã sử dụng khái niệm 'phức hợp loài', trong đó mèo hoang mạc và mèo rừng,... đều thuộc về một loại.

Bộ lông của mèo hoang mạc thường có màu vàng cát, không sẫm màu như một số loài mèo hoang khác; bộ lông sau của chúng thường có màu xám đen, tương tự như mèo mướp. Mặc dù có một số sọc trên mặt, nhưng chúng có màu xỉn và không rõ ràng như mèo hoang khác; điều này cũng đúng với các họa tiết vòng trên chân của chúng.
Tai của mèo hoang mạc nhọn và có một chùm lông đen ở đầu tai, giống với mèo rừng Châu Phi, nhưng khác biệt so với mèo rừng Olin (mèo rừng Châu Âu) và mèo rừng Châu Á, có tai tròn hơn. Điều này là do môi trường sống của mèo hoang mạc và mèo rừng Châu Phi thoáng đãng hơn, nên những chùm lông này có tác dụng hỗ trợ thính giác.

Mèo rừng Châu Âu.
Đuôi của mèo hoang mạc ngắn hơn một số loài mèo hoang khác, chỉ chiếm khoảng 45% chiều dài cơ thể, trong khi đuôi của một số loài mèo hoang có thể dài đến 50-60%. Đuôi của chúng có các vân vòng đặc biệt. Điểm khác biệt nằm ở phần đuôi dày, lông đuôi dài và bồng bềnh của mèo hoang mạc. Mèo rừng Châu Á và mèo rừng Châu Phi có đuôi tương đối ngắn, trông mỏng manh, mặc dù đuôi của mèo Olin dài nhưng không bồng như đuôi của mèo hoang mạc. Với mèo hoang mạc sống trên núi cao, đuôi to như một chiếc chăn ấm, khi cuộn tròn lại, có thể bao phủ cơ thể để giữ ấm.
Thực tế, mèo hoang mạc là loài đặc hữu của miền tây Trung Quốc, sinh sống tại các vùng núi có độ cao 2500 - 5000 mét so với mực nước biển. Chúng thích sống trong môi trường đồng cỏ núi cao, vì vậy phạm vi phân bố của chúng rất hẹp, giới hạn ở phần đông bắc của Cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng, và không tìm thấy ở các khu vực khác của cao nguyên.

Về phạm vi phân bố của mèo hoang mạc, có hai quan điểm khác nhau trong giới học thuật. Một quan điểm cho rằng chúng chỉ được tìm thấy ở Thanh Hải, Tứ Xuyên và Cam Túc. Quan điểm khác cho rằng chúng cũng xuất hiện ở sa mạc Gobi ở bắc Cam Túc, Tân Cương, Nội Mông và Ninh Hạ. Theo các nghiên cứu gần đây, mèo hoang mạc không từng được ghi nhận ở Nội Mông và Tân Cương, chỉ xuất hiện ở dãy núi Qilian của Cam Túc.
Vì mèo hoang mạc có quan hệ mật thiết với mèo hoang và mèo nhà nên chúng thường không được coi là một loài độc lập. Thứ nhất, mèo hoang mạc tách ra khỏi mèo hoang rất muộn, chỉ khoảng 230.000 năm, do đó để xem chúng là loài độc lập còn quá sớm. Thứ hai, phân tích microsatellite cho thấy mèo hoang mạc và mèo rừng Châu Á là nhóm chị em, và mối quan hệ với mèo rừng Châu Á gần gũi hơn so với mèo hoang ở các vùng khác.

Kết quả phân tích microsatellite: Mèo sa mạc (đỏ) và mèo rừng Châu Á (tím) là nhóm chị em.
Thực tế, việc xem mèo hoang mạc là một loài riêng biệt hay kết hợp vào mèo hoang phụ thuộc vào các khái niệm mà con người sử dụng để xác định loài.

Mèo hoang mạc thường chọn hang độ sâu để sinh con và trú ẩn, nơi đó cũng là nơi chúng tránh né kẻ thù hoặc nghỉ ngơi tạm thời. Hang đá tự nhiên là nơi chúng ưa thích, đặc biệt là những hang sâu chứa đầy lông và xương thỏ rừng, chim. Mèo hoang mạc thường sinh con từ tháng 4 đến tháng 5 hàng năm, và từ tháng 8 đến tháng 10 là thời gian chăm sóc con sau khi chúng cai sữa, mẹ mèo phải dạy chúng săn mồi để chuẩn bị cho cuộc sống độc lập sau này.

Theo ước tính của IUCN, trên thế giới có khoảng 9.999 con mèo hoang mạc (tôi không thể hiểu làm thế nào IUCN đưa ra con số này). Do phạm vi phân bố hẹp và số lượng giảm dần, IUCN coi mèo hoang mạc là loài dễ bị tổn thương và triển vọng không mấy lạc quan.
Việc nuôi và nhân giống mèo hoang mạc hiện nay không được đánh giá cao. Con mèo hoang mạc đầu tiên được nuôi nhốt trưng bày tại Sở thú Bắc Kinh vào năm 1974. Đó là một con mèo cái nặng 6,5 kg; sau đó sở thú còn nuôi thêm một con mèo đực nặng 9 kg. Nhưng hai con mèo này không thành công trong việc phối giống, và sau đó chúng đều qua đời. Vườn thú Tây Ninh Trung Quốc từng nuôi hơn 10 con mèo hoang mạc, nhưng sau hơn mười năm nuôi và nhân giống thì vẫn không có tiến triển, và sau đó chúng cũng từ từ qua đời vì tuổi già và suy yếu sức khỏe.
